vanban.org

Bản án 05/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV.

Bu c anh Lê Văn T có nghĩa vụ trả nợ tiền hàng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV với số tiền 294.765.000 đồng theo Biên bản xác nhận công nợ ngày 10 tháng 8 năm 2017. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV.
  • Căn cứ chính? Điều 50 Luật Thương mại; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Luật Thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/KDTM-ST
Ngày 28 - 5 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Phúc;

2. Ông Hoàng Ngọc Thoan;

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị: Bà Trần Hoàng Lan Phương- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: Số 45-Lê Lợi, thành phố Đông Hà) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh, thương mại thụ lý số: 32/2018/TLST-DS ngày 06 tháng 4 năm 2018, về việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV;

Trụ sở đóng tại: Thôn N, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn L- Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị Thùy C; địa chỉ: Số 117B- HV, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 5 năm 2018). Có mặt.

* Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm: 1990;

Địa chỉ: Số 225- TT, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

[1] Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV (Sau đây gọi tắt là: Công ty TV) trình bày:

Trong khoảng thời gian t ngày 10 tháng 01 năm 2016 đến ngày 20 tháng 01 năm 2017, Công ty TV nhiều lần bán Xi măng Xuân Thành cho anh Lê Văn T, sinh năm: 1990; địa chỉ: Số 225- TT, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, với tổng khối lượng: 3.902,5 tấn, thành tiền 4.015.765.000 đồng. Anh T đã nhiều lần trả nợ tiền hàng với tổng số tiền 3.721.000.000 đồng, còn nợ 294.765.000 đồng, được xác định tại Biên bản xác nhận công nợ ngày 10 tháng 8 năm 2017, trong biên bản xác nhận công nợ anh T có cam kết: T ngày 10 tháng 8 năm 2017 đến ngày 10 tháng 9 năm 2017, anh T sẽ trả hết khoản nợ 294.765.000 đồng cho Công ty TV. Đã quá thời hạn cam kết nhưng anh T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền hàng nên Công ty TV khởi kiện với yêu cầu: Bu c anh Lê Văn T có nghĩa vụ trả nợ tiền hàng cho Công ty TV số tiền 294.765.000 đồng theo Biên bản xác nhận công nợ ngày 10 tháng 8 năm 2017.

[2] Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Lê Anh T trình bày:

- Trong khoảng thời gian t ngày 10 tháng 01 năm 2016 đến ngày 20 tháng 01 năm 2017, anh T nhiều lần mua Xi măng Xuân Thành của Công ty TV rồi bán lại cho nhiều khách hàng khác với mục đích kiếm lời. Do không thu hồi được nợ tiền hàng t các khách hàng mua nên anh T mất khả năng thanh toán nợ tiền hàng cho Công ty TV.

- Anh T th a nhận toàn b n i dung khởi kiện của nguyên đơn là đúng sự thật và xác nhận số nợ tiền hàng mà anh T còn phải trả cho Công ty TV là 294.765.000 đồng. Nhưng anh T cho rằng: Do không có khả năng tài chính nên Anh T không trả khoản nợ nêu trên cho Công ty TV.

* Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng:

Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của Công ty TV là đúng thẩm quyền.

Thẩm phán, Thư ký, H i đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.

Công ty TV và anh T ký kết, thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa đều nhằm mục đích lợi nhuận nên tranh chấp trong vụ án là: “Tranh chấp về kinh doanh, thương mại”, cụ thể là: “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa” quy định tại khoản 1 Điều 30 B luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Anh T đã th a nhận còn nợ tiền hàng của Công ty TV với số tiền 294.765.000 đồng; đã quá thời hạn cam kết trả nợ (ngày phải trả nợ: T ngày 10 tháng 8 năm 2017 đến ngày 10 tháng 9 năm 2017) nhưng anh T vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền hàng.

Đề nghị H i đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 4, Điều 24, khoản 1, 2 Điều 50 Luật Thương mại, chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Ngày 06 tháng 4 năm 2018, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà thụ lý vụ án sơ thẩm số 32/2018/TB-TLVA theo đơn khởi kiện của Công ty TV, đối với người bị kiện là ông Lê Văn T và xác định tranh chấp trong vụ án là: “Tranh chấp về dân sự”, cụ thể là: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự” quy định tại khoản 3 Điều 26 B luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ ý kiến tình bày của các bên đương sự tại phiên họp kiểm tra việc giao n p tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 17 tháng 4 năm 2017 và khoản 1 Điều 30 B luật Tố tụng dân sự, Tòa án ra Thông báo số 01/TBTA-DS ngày 02 tháng 5 năm 2018 để xác định lại tranh chấp trong vụ án là: Tranh chấp về kinh doanh, thương mại là có đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về n i dung:

Xem xét Biên bản xác nhận công nợ đề ngày 10 tháng 8 năm 2017 (chứng cứ do nguyên đơn cung cấp) cũng như ý kiến của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, H i đồng xét xử thấy:

- Tính đến ngày 10 tháng 8 năm 2017, anh Lê Văn T còn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền hàng cho Công ty TV với số tiền 294.765.000 đồng.

- Đã quá thời hạn cam kết trả nợ (ngày phải trả nợ: T ngày 10 tháng 8 năm 2017 đến ngày 10 tháng 9 năm 2017) nhưng anh T vẫn không thực hiện nghĩa vụ sẽ trả khoản nợ 294.765.000 đồng cho Công ty TV. Như vậy, anh T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền hàng.

- Đối với ý kiến anh T cho rằng “Do không thu hồi được nợ tiền hàng t các khách hàng mua nên anh T mất khả năng thanh toán nợ tiền hàng cho Công ty TV”. Đây không phải là căn cứ pháp lý và cũng như n i dung thỏa thuận của các bên để miễn nghĩa vụ trả nợ tiền hàng.

T những nhận định nêu trên, H i đồng xét xử xét thấy, đã có đủ căn cứ để chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 4, Điều 24, khoản 1, 2 Điều 50 Luật Thương mại, bu c anh Lê Anh T phải có nghĩa vụ trả nợ tiền hàng cho Công ty TV với số tiền 294.765.000 đồng theo Biên bản xác nhận công nợ ngày 10 tháng 8 năm 2017.

Về án phí: Anh Lê Văn T phải chịu toàn b án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm; Công ty TV không phải chịu án phí sơ thẩm nên cần trả lại toàn b tiền tạm ứng án phí đã n p cho Công ty TV.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 30 B luật Tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 4; Điều 24; khoản 1, 2 Điều 50 Luật Thương mại, xử:

Chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV.

Bu c anh Lê Văn T có nghĩa vụ trả nợ tiền hàng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV với số tiền 294.765.000 đồng theo Biên bản xác nhận công nợ ngày 10 tháng 8 năm 2017.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí:

- Bu c anh Lê Văn T phải chịu 14.738.000 đồng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm.

- Trả lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh thương mại vận tải TV toàn b tiền tạm ứng án phí đã n p là 7.369.000 đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2014/0009045 ngày 04 tháng 4 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ