vanban.org

Bản án 05/2018/KDTM-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ch p nhận kháng cáo của C ng ty TNHH thương m i dịch vụ xây dựng V, sửa Bản án sơ thẩm như sau:

Hủy toàn ộ Bản án kinh doanh thương m i sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 10-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện T. iao h sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện T (nay là Tòa án nhân dân thị xã P) giải quyết l i theo thủ tục sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp HĐ mua bán đất hạ mặt bằng công trình"
  • Tòa quyết gì? Ch p nhận kháng cáo của C ng ty TNHH thương m i dịch vụ xây dựng V, sửa Bản án sơ thẩm như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/KDTM-PT
Ngày: 23-7-2018
Về việc: Tranh ch p h p đ ng
mua án đ t h m t ng c ng tr nh

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Huệ

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Quang

Ông Nguyễn Minh Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà H H nh Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Ông Nguyễn Thành Lê – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23-7-2018, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm c ng khai vụ án kinh doanh thương m i thụ lý số 07/2018/TLPT-KDTM ngày 16-3-2018 về việc “Tranh ch p h p đ ng mua án đ t h m t ng c ng tr nh”.

Do Bản án kinh doanh thương m i sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 10-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện T ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2018/QĐ-PT ngày 22-5-2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/QĐ-PT ngày 07-6-2018; Quyết định t m ngừng phiên tòa số 15/2018/QĐPT-KDTM ngày 11-7-2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH B.

Địa chỉ: Xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người đ i diện theo pháp luật: Ông Kim Min S - T ng iám đốc (vắng mặt).

Người đ i diện h p pháp: Ông Suh Jong K, sinh năm 1956 - Phó T ng giám đốc, là người đ i diện theo ủy quyền, gi y ủy quyền số 16BM/UQ/HCNS ngày 01-4-2018 (có mặt).

2. Bị đơn: Công ty TNHH thương m i dịch vụ xây dựng V.

Địa chỉ: Xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người đ i diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn V - iám đốc (vắng mặt).

Người đ i diện h p pháp của ị đơn: Ông Vũ Anh T1, sinh năm 1973 - là đ i diện theo gi y ủy quyền số 18/ UQ ngày 08-5-2018; Địa chỉ: Đường T, phường T, Quận S, thành phố H Chí Minh (có mặt).

3. Người phiên dịch theo yêu cầu của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1985; Địa chỉ liên hệ: Đường P, phường S, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn là C ng ty TNHH thương m i dịch vụ xây dựng V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là Công ty TNHH B thông qua người đại diện trình bày:

Ngày 07-7-2015 Công ty TNHH B (g i t t là Công ty B) và Công ty TNHH thương m i dịch vụ xây dựng V (g i t t là Công ty V) ký kết H p đ ng kinh tế số 07/2015/HĐKT về việc mua án đ t h m t ng t i cụm c ng nghiệp B (g i t t là H p đ ng kinh tế số 07). Theo đó, Công ty B đ ng ý cho Công ty V khai thác đ t trên diện tích m t ng 38ha tương đương với khối lư ng đ t là 460.000m3, với đơn giá 75.000.000đ/ha, thời h n thực hiện là 06 tháng kể từ ngày ký h p đ ng. T ng giá trị h p đ ng là 2.850.000.000đ, Công ty V thanh toán cho Công ty B thành 03 đ t: Đ t 1 thanh toán 30% giá trị h p đ ng trong vòng 07 ngày kể từ ngày ký h p đ ng; Đ t 2 thanh toán 40% giá trị h p đ ng trong vòng 02 tháng kể từ ngày ký h p đ ng; Đ t 3 thanh toán 30% giá trị h p đ ng trong vòng 04 tháng kể từ ngày ký h p đ ng. Công ty V đã thanh toán xong.

Công ty V chịu trách nhiệm khai áo, đăng ký số lư ng khai thác với Sở Tài nguyên và m i trường, Phòng khai thác khoáng sản và những v n đề phát sinh trong quá tr nh khai thác san l p m t ng, đóng t t cả các lo i thuế cho Nhà nước cho số lư ng đ t khai thác, khai thác cao độ đúng theo ản vẽ chi tiết do Công ty B cung c p.

Công ty B có cung c p cho Công ty V một ản vẽ địa h nh dự án khu c ng nghiệp B, t i xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, do C ng ty c phần xây dựng thương m i và thiết kế P (g i t t là Công ty P) lập để làm căn c thực hiện h p đ ng. Trong đó thể hiện r diện tích đào, diện tích đ p, khối lư ng đào, khối lư ng đ p.

Quá tr nh thực hiện h p đ ng phía ị đơn đã vi ph m khoản 1 Điều 3 của h p đ ng, cụ thể kh ng thực hiện trách nhiệm khai áo, đăng ký số lư ng đ t khai thác với Sở Tài Nguyên m i trường và Phòng khai thác khoáng sản; kh ng thực hiện đóng các lo i thuế trên số lư ng khai thác; khai thác vư t quá cao độ theo ản vẽ, nguyên đơn đã hai lần có văn ản nh c nhở phía ị đơn, yêu cầu ngừng khai thác đ t t i c ng trường và uộc Công ty V kh c phục theo đúng cao độ trong ản vẽ. Đến ngày 02-12-2015 hai ên đã ký iên ản h p về việc dừng khai thác m t ng và Công ty V đã dừng khai thác m t ng từ đó đến nay. Theo kết quả đo đ c của C ng ty c phần phát triển địa ốc T ngày 07-7-2016 th khối lư ng đ t để l p m t ng c ng trường về độ cao mà Công ty V đã khai thác vư t quá so với cao độ chuẩn là 96.117,73m3. Căn c theo điểm 5.2, khoản 5, mục II ản Hướng dẫn đo óc khối lư ng xây dựng C ng tr nh kèm theo Quyết định số 451/QĐ-BXD ngày 23-05-2017 của Bộ Xây dựng hướng dẫn đo óc c ng tác đào, đ p; Căn c Phụ lục C, mục 11 của Tiêu chuẩn Quốc ia số TCVN 4447:2012 quy định về hệ số chuyển thể tích từ đ t tự nhiên sang đ t tơi đối với lo i đ t cuội, pha với s i nh , trung có hệ số tơi xốp của đ t là 1,3. V vậy, khối lư ng đ t cần để ù đ p là 96.117,73m3 x 1,3 = 124.953,049 m3.

Theo đơn giá san l p m t ng t i huyện T vào thời điểm tháng 9/2017 là 110.000 đ ng/m3. Do đó, chi phí để san l p ù đ p m t ng đã ị Công ty V đã khai thác quá cao độ là 124.953,049m3 x 110.000đ/m3 = 13.744.835.390đ.

V vậy, Công ty B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy một phần H p đ ng kinh tế số 07/2015/HĐKT ngày 07-7-2015, ch m d t việc khai thác đ t của Công ty V từ ngày 02-12-2015; Buộc Công ty V b i thường thiệt h i cho Công ty B số tiền 13.744.835.390đ (96.117,73m3 x 1.3 x 110.000đ) để san l p m t ng c ng trường về cao độ theo ản vẽ chi tiết mà Công ty B cung c p theo H p đ ng kinh tế số 07.

Bị đơn là Công ty V thông qua người đại diện trình bày:

Công ty V và Công ty B có ký kết h p đ ng kinh tế số 07/2015/HĐKT ngày 07-7-2015, nội dung của h p đ ng đúng như nguyên đơn tr nh ày.

Trong quá tr nh thực hiện h p đ ng, Công ty V đã thực hiện đúng như th a thuận trong h p đ ng, cụ thể đã thanh toán đủ số tiền trong 04 đ t như sau: Ngày 16-7-2015 thanh toán 750.000.000đ; ngày 08-9-2015 thanh toán 800.000.000đ; ngày 10-9-2015 thanh toán 445.000.000đ và ngày 17-11-2015 thanh toán 855.000.000đ.

Công ty V đã khai thác đúng như th a thuận trong h p đ ng và thực tế chưa khai thác đủ khối lư ng 460.000m3. Trong quá tr nh thực hiện h p đ ng, hai ên làm việc với nhau nhưng kh ng lập văn ản, nguyên đơn cũng kh ng giao ản vẽ kèm theo mà ị đơn khai thác đ t theo sự giám sát và chỉ dẫn của nguyên đơn. Sau này, hai ên có u i h p về việc dừng khai thác m t ng và phía ị đơn đã dừng khai thác vào ngày 12-12-2015. Sau thời điểm đó Công ty B tiến hành thuê đo vẽ l i, theo ản vẽ m t ng cao độ hiện tr ng t lệ 1/1000 do C ng ty c phần tư v n thiết ị và đo đ c A và ản vẽ B nh đ tính khối lư ng t lệ 1/1000 do C ng ty c phần phát triển địa ốc T thực hiện th có kết quả Công ty V khai thác dư lư ng đ t so với cao độ chuẩn thì Công ty V kh ng đ ng ý vì kh ng vi ph m các th a thuận trong h p đ ng.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Xuân T2 trình bày: Ông T2 t đầu làm việc cho Công ty B từ tháng 9/2015, c ng việc đư c giao là giám sát c ng tr nh khai thác đ t san l p do Công ty V thực hiện t i c ng trường của Công ty B. Công ty V tiến hành khai thác theo khối lư ng đã ký kết dựa trên ản vẽ kèm theo h p đ ng. Tuy nhiên Công ty V khai thác đ t th p hơn cao độ cho phép, ông T2 có yêu cầu Công ty V san l p cho ng cao độ mới đư c khai thác tiếp nhưng Công ty V kh ng thực hiện. Ông T2 có áo cáo l i với Công ty B nhưng sau đó Công ty V vẫn tiến hành khai thác và vi ph m cao độ cho phép. Do kh ng kh c phục đư c t nh tr ng và cảm th y kh ng hoàn thành nhiệm vụ đư c giao nên tháng 11-2015 ông T2 đã xin nghỉ việc t i Công ty B.

Ông Nguyễn Xuân H trình bày: Ông H làm việc cho Công ty B với ch c vụ là Trưởng phòng hành chính nhân sự và phiên dịch cho T ng giám đốc t i Công ty B. Ông là người tham gia so n thảo H p đ ng kinh tế số 07 và giám sát việc thực hiện h p đ ng trên. Nội dung H p đ ng kinh tế số 07 đúng như Công ty B đã nêu.

Thời gian đầu Công ty V khai thác đúng cao độ đ t, tuy nhiên đến khoảng tháng 8-2015 Công ty V tăng tiến độ, khai thác âm so với cao độ cho phép. Công ty B đã có văn ản gửi Công ty V dừng việc khai thác để kh c phục vi ph m. Sau đó, giữa hai c ng ty tiến hành h p th a thuận, Công ty V h a vừa khai thác vừa kh c phục. Đến tháng 10-2015 hai ên tiến hành h p lần hai, Công ty V tiếp tục h a sẽ kh c phục nhưng quá tr nh khai thác vẫn vi ph m. Đến giữa tháng 12-2015 hai ên tiến hành h p lần ba, Công ty V thừa nhận việc khai thác đ t là quá cao độ cho phép và tiếp tục h a kh c phục. Sau đó, Công ty V tiến hành đưa xe ủi vào san l p nhưng kh ng kh c phục đư c nhiều. Tuy nhiên, l i dụng kh ng có sự giám sát Công ty V vẫn khai thác vào an đêm, đến cuối tháng 12-2015 Công ty V dừng khai thác đ t.

Công ty B đã liên hệ và yêu cầu Công ty V phải kh c phục, ù lư ng đ t để ng với cao độ cho phép nhưng Công ty V kh ng thực hiện.

Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 10-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên xử:

Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty B đối với Công ty V về “Tranh ch p h p đ ng mua án đ t h m t ng c ng tr nh”.

Hủy một phần của H p đ ng kinh tế số 07/2015/HĐKT ngày 07-7-2015 đư c ký kết giữa Công ty B và Công ty V, ch m d t việc khai thác đ t của Công ty V từ ngày 02-12-2015.

Buộc Công ty V i thường thiệt h i cho Công ty B số tiền 13.744.835.390đ.

Ngoài ra ản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 23-01-2018, bị đơn là Công ty V kháng cáo toàn ộ Bản án sơ thẩm nêu trên. Đề nghị Tòa án c p phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng ác yêu cầu khởi kiện của Công ty B, uộc Công ty B phải chịu toàn ộ các chi phí tố tụng.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm:

Nguyên đơn là Công ty B thông qua người đại diện hợp pháp trình bày:

H p đ ng kinh tế số 07 giữa Công ty B và Công ty V kh ng phải là h p đ ng án đ t mà là h p đ ng cải t o m t ng theo Điều 2 của H p đ ng kinh tế số 07. Công ty V phải khai thác theo đúng như bản vẽ kèm theo h p đ ng là Bản vẽ địa h nh dự án khu c ng nghiệp B do Công ty P lập. Bản vẽ này tuy kh ng đóng d u giáp lai cùng H p đ ng kinh tế số 07, hai ên cũng sơ su t kh ng ký xác nhận ản vẽ đó cùng với h p đ ng nhưng Công ty B có giao ản vẽ này cho Công ty V. Căn c vào ản vẽ của Công ty P th iết đư c m t ng mà Công ty B bàn giao cho Công ty V vì các th ng số là khối lư ng, diện tích đào đi và đ p vào có thể hiện trên ản vẽ.

Mục đích của Công ty B là h cốt nền chỗ cao san l p vào chỗ th p để đ t đư c cao độ như mong muốn theo h p đ ng, khi dư khối lư ng đ t th Công ty V mới đư c khai thác. iữa hai c ng ty kh ng có cam kết riêng về việc này, nhưng trong Điều 2 của h p đ ng có ghi Công ty V đư c khai thác, san l p m t ng.

Cách tính khối lư ng đ t đào đi là l y cốt 0 ng với m t đường B2 do Công ty B xây dựng để h m t ng của 38 hecta ng với cốt 0 đó, khi ký h p đ ng đo đ c th có yêu cầu Công ty P đo theo cốt nền m t đường B2.

Trong quá trình Công ty V khai thác, Công ty B có thuê ông Nguyễn Xuân T2 giám sát, sau khi ông T2 nghỉ th ng Nguyễn Xuân H là nhân viên C ng ty đ ng ra giám sát.

Công ty V ch m d t khai thác đ t từ ngày 12-12-2015, giữa Công ty B và Công ty V kh ng lập iên ản về hiện tr ng m t ng khi ch m d t khai thác, lý do kh ng lập iên ản là Công ty B vẫn đang yêu cầu Công ty V kh c phục vi ph m về cao độ.

Bị đơn là Công ty V thông qua người đại diện hợp pháp trình bày:

H p đ ng kinh tế số 07 nội dung là bên Công ty B án đ t h m t ng trên diện tích 38ha với khối lư ng 460.000m3 cho Công ty V, Công ty V khai thác dưới sự giám sát trực tiếp của người ên Công ty B là ông Nguyễn Xuân H và ông Nguyễn Xuân T2. Ông H, ông T2 chỉ chỗ nào cao th đào đ t đi, chỗ nào th p th kh ng đào.

Trong h p đ ng kinh tế số 07 có nêu về việc “xem chi tiết ản vẽ đính kèm” tuy nhiên Công ty V kh ng nhận đư c ản vẽ nào cùng với h p đ ng, khi ký h p đ ng Công ty V kh ng để ý về ản vẽ và Công ty B kh ng giao ản vẽ nên Công ty V vẫn ký h p đ ng. Thực tế, việc khai thác đ t đư c thực hiện theo sự chỉ đ o của người giám sát bên Công ty B ch kh ng theo ản vẽ.

iữa Công ty B và Công ty V cũng kh ng có th a thuận về việc đào đ t, san l p m t ng mới cao ng m t ng đường B2 của Công ty B. H p đ ng kinh tế số 07 là h p đ ng án đ t ch kh ng phải h p đ ng cải t o m t ng.

Đến khi Công ty B không cho Công ty V khai thác đ t nữa thì Công ty V dừng khai thác, Công ty V không vi ph m về việc khai thác đ t. Khi đó, Công ty V có yêu cầu Công ty B nghiệm thu m t ng àn giao nhưng Công ty B kh ng trả lời. Do đó, cho đến nay giữa hai c ng ty chưa lập iên ản về thực tế m t ng khi Công ty V ch m d t khai thác.

Quá trình thương lượng, hòa giải tại Tòa án phúc thẩm: Công ty B yêu cầu Công ty V i thường một phần thiệt h i là 40.000m3 đ t, tương đương 04 t đ ng, nhưng Công ty V chỉ đ ng ý hỗ tr 1,5 t đ ng nên hai bên kh ng đ t đư c th a thuận về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Các đương sự kh ng th a thuận đư c với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có ý kiến:

Việc ch p hành pháp luật của Thẩm phán và Hội đ ng xét xử phúc thẩm đúng quy định. Các đương sự có m t t i phiên tòa phúc thẩm ch p hành tốt quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Căn c tài liệu ch ng c t i h sơ thể hiện h nh th c và nội dung h p đ ng kinh tế số 07 đều thể hiện r t r đây là h p đ ng kinh tế về mua án đ t h m t ng với đối tư ng, khối lư ng, đơn giá và t ng giá trị của h p đ ng là r t r ràng.

Phía nguyên đơn cũng như Tòa án c p sơ thẩm kh ng xác định cao độ trước và sau khi Công ty V thi c ng để xác định có việc vi ph m h p đ ng hay kh ng, số lư ng Công ty V đã khai thác là ao nhiêu, có phải ù đ p hay kh ng, mà chỉ căn c vào ản vẽ nh đ khối lư ng do Công ty T lập, kh ng trừ khối lư ng cần đào mà đưa ra khối lư ng cần đ p tương đương số lư ng đ t rời phải ù và uộc Công ty V phải i thường cho Công ty B số tiền 13.744.835.390đ là chưa đủ cơ sở.

Đề nghị Hội đ ng xét xử hủy Bản án kinh doanh thương m i sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 10-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện T, chuyển h sơ vụ án cho Tòa án c p sơ thẩm giải quyết l i vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong h sơ vụ án, đư c thẩm tra t i phiên tòa và căn c vào kết quả tranh luận t i phiên tòa, Hội đ ng xét xử phúc thẩm nhận định:

Về tư cách đ i diện theo pháp luật của Công ty V đã có sự thay đ i từ trước phiên tòa sơ thẩm, ng Nguyễn Văn V đã thay cho ông Trịnh Minh Q nhưng Bản án sơ thẩm vẫn để người đ i diện cũ là kh ng đúng.

Ngày 07-7-2015 Công ty V và Công ty B ký kết h p đ ng kinh tế số 07/2015/HĐKT. Theo đó, Công ty B bán cho Công ty V đ t h m t ng, trên diện tích 38ha, tương đương 460.000 m3 đ t, theo đơn giá cố định 75.000.000đ/ha, t ng giá trị của h p đ ng là 2.850.000.000đ. Thời gian khai thác là 06 tháng kể từ ngày ký h p đ ng. Công ty B cho r ng Công ty V khai thác kh ng đúng theo cao độ đư c thể hiện trong ản vẽ kèm theo h p đ ng nên căn c B nh đ tính khối lư ng của C ng ty c phần phát triển địa ốc T yêu cầu hủy một phần H p đ ng kinh tế số 07 và yêu cầu Công ty V i thường thiệt h i số tiền là 13.744.835.390đ.

Xét việc Công ty B yêu cầu Công ty V i thường thiệt h i do khai thác quá cao độ với t ng số tiền là 13.744.835.390đ. Với yêu cầu này cần phải xác định đư c Công ty V có vi ph m khai thác quá cao độ hay kh ng và nếu có vi ph m th cao độ ị vư t quá là ao nhiêu để xác định đư c thiệt h i thực tế của Công ty B.

H p đ ng số 07 do hai C ng ty ký kết có những nội dung cam kết kh ng rõ ràng. T i g ch đầu hàng th 7 của khoản 1 Điều 3 H p đ ng kinh tế số 07 có nội dung Công ty V phải khai thác cao độ đúng theo ản vẽ chi tiết do bên Công ty B cung c p, nhưng kh ng ghi đó là ản vẽ nào. Công ty B và đ i diện của Công ty P thì trình bày ản vẽ này là ản vẽ địa h nh của Công ty P t i út lục số 198 trong h sơ, ản vẽ này kh ng ghi thời gian lập, kh ng thể hiện đầy đủ các th ng số. Công ty V thì cho r ng kh ng nhận đư c t c ản vẽ nào mà trong thực tế việc khai thác đ t hoàn toàn theo sự chỉ dẫn trực tiếp của người giám sát do Công ty B cử đến. Như vậy ản vẽ kèm theo h p đ ng số 07 vẫn chưa đư c xác định rõ. V thế cần phải đưa Công ty P vào tham gia vụ án để xác định những điều Công ty B trình bày và xác định ản vẽ của Công ty P là ản vẽ kèm theo H p đ ng số 07 hay kh ng? Nếu đúng th cần sự hỗ tr chuyên môn để: Làm r các th ng số kỹ thuật của ản vẽ; T i hiện trường có một số chân cột điện và ụ đ t cao hơn m t ng hiện nay nên từ đó xác định cao độ trước khi Công ty V khai thác. Định vị các vị trí đó vào ản vẽ để xác định các th ng số như các th ng số của Công ty P lập trong ản vẽ và so sánh đối chiếu các th ng số mới xác định đó có phù h p với các th ng số đã thể hiện trong ản vẽ của Công ty P lập hay không, từ đó xác định ản vẽ của Công ty P có tính khoa h c, đúng kỹ thuật để đư c sử dụng trong thực tế hay kh ng?

Sau khi đã làm r đư c các v n đề ở mục [3.1] th cần đánh giá m c độ lỗi để định m c chịu thiệt h i nếu có. Công ty V m c dù cho r ng kh ng nhận đư c ản vẽ nhưng vẫn ký H p đ ng và thực hiện h p đ ng theo sự giám sát của nhân viên Công ty B mà kh ng có phản h i với Công ty B về việc kh ng nhận đư c ản vẽ ho c yêu cầu điều chỉnh nội dung này trong h p đ ng, đ ng thời trong iên ản h p giữa Công ty B và Công ty V ngày 02-12-2015 thì Công ty B có đề cập đến việc Công ty V vi ph m khai thác độ cao và yêu cầu Công ty V san m t ng theo đúng như yêu cầu của ản vẽ, Công ty V kh ng có ý kiến phản đối và vẫn ký iên ản. Quá tr nh thực hiện h p đ ng, Công ty B có người giám sát thường xuyên và cho r ng Công ty V có vi ph m cao độ nhưng kh ng xác lập ch ng c và kh ng xử lý ngay. T i thời điểm Công ty V dừng khai thác hai ên kh ng xác định hiện tr ng m t ng. Do đó, việc ký kết h p đ ng và thực hiện h p đ ng cả hai ên đều chưa đúng, cần phải xác định, đánh giá trách nhiệm, m c độ lỗi của cả hai ên.

Tòa án c p sơ thẩm căn c vào b nh đ , ản vẽ kỹ thuật tính khối lư ng của C ng ty c phần phát triển địa ốc T để uộc Công ty V i thường thiệt h i nhưng kết quả tính khối lư ng cần ù đ p theo ản vẽ của Công ty T đã căn c vào m t ng cao độ theo thiết kế - mà chưa r là cao độ thiết kế nào, có trùng với cao độ mà Công ty B yêu cầu Công ty V phải đảm ảo hay không. Như vậy là chưa có căn c , chưa đảm ảo tính chính xác, chưa đủ cơ sở để quyết định.

Ngoài ra, còn có thể dựa vào khối lư ng đ t mà Công ty V đã khai thác để t ng h p với các ch ng c khác nh m xác định Công ty V có vi ph m h p đ ng không. Theo Công ty B th khối lư ng đ t Công ty V đào đi căn c vào ản vẽ của Công ty P là khoảng 460.000m3, nhưng khối lư ng đ t Công ty V đã khai thác đư c là bao nhiêu thì Tòa án c p sơ thẩm chưa điều tra, xác minh.

Do h sơ vụ án có những thiếu sót trong việc điều tra, làm rõ, đánh giá ch ng c như trên mà kh ng thể sung ở Tòa án c p phúc thẩm nên Hội đ ng xét xử ch p nhận kháng cáo của Công ty V, hủy ản án sơ thẩm để giải quyết l i vụ án.

Về án phí kinh doanh thương m i phúc thẩm: Bị đơn kh ng phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 3 Điều 308, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án, tuyên xử:

Ch p nhận kháng cáo của C ng ty TNHH thương m i dịch vụ xây dựng V, sửa Bản án sơ thẩm như sau:

1. Hủy toàn ộ Bản án kinh doanh thương m i sơ thẩm số 01/2018/KDTM-ST ngày 10-01-2018 của Tòa án nhân dân huyện T.

2. iao h sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện T (nay là Tòa án nhân dân thị xã P) giải quyết l i theo thủ tục sơ thẩm.

3. Án phí kinh doanh thương m i phúc thẩm: C ng ty TNHH thương m i dịch vụ xây dựng V không phải chịu, đư c hoàn trả tiền t m ng án phí là 2.000.000đ theo iên lai thu tiền t m ng án phí số 0000606 ngày 24-01-2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (23-7-2018).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ