- Tranh chấp gì? án hình sự — "CĐTS - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội : Cưỡng đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2018/HSST Ngày: 19 – 01 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Diệp
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khanh
Bà Nguyễn Thị Kim Phượng
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Lê Kim Phương - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2018/HSST ngày 02 tháng 01 năm 2018 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn Đức L , sinh năm 1993 tại Bắc Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Q - xã H, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Đức L, sinh năm: 1960; con bà: Lê Thị K, sinh năm 1971; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Danh chỉ số 542, lập ngày 28/11/2017 tại Công an quận Long Biên, thành phố Hà Nội, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt ngày 15/10/2017, hủy bỏ quyết định tạm giữ ngày 20/10/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Người bị hại:
Chị Nguyễn Thị H – SN 1997, HKTT: N, Tân Yên, Bắc Giang (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối năm 2014, chị Nguyễn Thị H quen biết với Nguyễn Đức L qua mạng xã hội. Sau đó, giữa hai người nảy sinh tình cảm yêu đương và đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau tại nhà nghỉ. Vào thời điểm đó, đã có lần L dùng điện thoại di động của mình để quay phim ghi lại cảnh hai người ân ái, khi chị H hỏi thì L nói để lưu lại làm kỉ niệm. Đến khoảng tháng 6/2017 chị H chia tay L . L đã nhắn tin, điện thoại để níu kéo tình cảm nhưng đều không được chị H đáp trả. Do bản thân không có tiền tiêu sài, L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị H bằng cách nhắn tin cho chị H yêu cầu phải đưa cho L số tiền 10.000.000 VNĐ, nếu không L sẽ tung các video, hình ảnh quan hệ tình dục giữa L và chị H lên mạng xã hội. Do lo sợ việc làm của L sẽ gây thiệt hại đến danh dự,nhân phẩm…của mình nên chị H đã chấp nhận. Khoảng 17h00 ngày 15/10/2017, tại quán cà phê Ngõ nhỏ - số 319 Lâm Du, P.Bồ Đề, Long Biên,Hà Nội, khi L vừa nhận của chị H số tiền 10.000.000 thì bị cơ quan công an bắt quả tang cùng tang vật. Quá trình bắt giữ, cơ quan công an tạm giữ của L 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu BlackBerry. Kết quả kiểm tra điện thoại xác định được toàn bộ tin nhắn có nội dung đe dọa mà L đã gửi cho chị H nhằm chiếm đoạt tài sản.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi theo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo xác nhận đã bồi thường về tổn thất tinh thần cho người bị hại là 10.000.000 đồng. Ông Nguyễn Đức Lâm là bố đẻ bị cáo xin được bảo lãnh cho bị cáo nếu được HĐXX cho hưởng lượng khoan hồng cải tạo ngoài xã hội.
Cáo trạng số 11/KSĐT ngày 30/12/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức L về tội: Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 135 - Bộ luật hình sự 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức L đã đủ yếu
Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 135 - Bộ luật hình sự tố cấu thành tội: 1999. Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, Khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa bồi thường cho người bị hại tổn thất về tinh thần số tiền 10.000.000 đồng, người bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 135 BLHS 1999; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự 1999.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo L mức án từ 16 đến 20 tháng tù giam
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra – CA Quận Long Biên đã ra quyết định xử lí vật chứng, trao trả 10.000.000 VNĐ cho chị Nguyễn Thị H . Sau khi nhận lại số tiền trên, chị H còn yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức L phải bồi thường về danh dự, nhân phẩm cho chị với số tiền 200.000.000VNĐ. Ngày 8/01/2018, chị H chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường vì vậy không xem xét về phần dân sự.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị cho tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Black Berry thu giữ của bị cáo L .
Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, cũng như bản nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án HĐXX có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Nguyễn Đức L có quan hệ tình cảm yêu đương với chị Nguyễn Thị H . Qúa trình hai người quan hệ tình dục, L có quay lại video bằng điện thoại di động. Khi chị H nói lời chia tay, L đã nhiều lần nhắn tin, điện thoại đe dọa, yêu cầu chị H phải đưa 10.000.000 đồng nếu không L sẽ đưa hình ảnh riêng tư của hai người lên mạng xã hội. Khoảng 17h00 ngày 15/10/2017, khi L nhận số tiền 10.000.000 đồng của chị H tại quán cà phê Ngõ nhỏ - só 319 Lâm Du, P.Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội thì bị công an bắt quả tang cùng tang vật
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức L đã phạm vào tội: Cưỡng đoạt tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 135 của Bộ luật hình sự 1999. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Xét về hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm lẽ ra cần phải áp dụng một hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới thỏa đáng song khi lượng hình cũng xem xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa bồi thường tổn thất về tinh thần cho người bị hại số tiền 10.000.000 đồng, người bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng
. HĐXX đối chiếu với Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 6/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, bị cáo Nguyễn Đức L đủ điều kiện xem xét được hưởng mức án tù treo theo Điều 60 BLHS 1999 là có căn cứ, cũng có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án tù giam là có phần nghiêm khắc so với tính chất, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập có mức độ không có điều kiện để thi hành nên không áp dụng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
VÒ d©n sù:
Cơ quan cảnh sát điều tra – CA Quận Long Biên đã ra quyết định xử lí vật chứng, trao trả 10.000.000 VNĐ cho chị Nguyễn Thị H . Sau khi nhận lại số tiền trên, chị H còn yêu cầu bị cáo Nguyễn Đức L phải bồi thường về danh dự nhân phẩm là 200.000.000 đồng. Ngày 08/01/2018, chị H có đơn xin thay đổi mức bồi thường, chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường về tổn thất tinh thần với số tiền 10.000.000VNĐ. Bị cáo đã bồi thường xong cho chị H số tiền này vào ngày 16/01/2018, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Black Berry thu giữ của bị cáo L do bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về dân sự và xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.
Bị cáo phải chịu án phí HSST. Bị cáo và người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội : Cưỡng đoạt tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự 1999; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 ; Điều 60 - Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức L 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo L cho UBND xã H - huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Black Berry Q10 màu trắng đã qua sử dụng.
(Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2018)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và C¨n cø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án.
| Nơi nhận - TAND tp. Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Công an quận Long Biên; - CC Thi hành án DS quận Long Biên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ - Lưu VP/TA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Diệp |