vanban.org

Bản án 05/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 01/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tô ̣i “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn D, xử phạt bị cáo Bùi Văn D 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 0…

Giao bị cáo Bùi Văn D cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Về trách nhiê ̣m dân sự: Không xét việc bồi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn D trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tô ̣i “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn D, xử phạt bị cáo Bùi Văn D 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 0…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VẠN NINH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/HSST
Ngày: 01/3/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trừ;

Các Hội thẩm nhân dân:

. Ông Lữ Ngọc Minh, nghề nghiệp: Hiệu trưởng trường tiểu học Vạn Giã 1;

. Ông Nguyễn Tam Kỳ, nghề nghiệp: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam xã Vạn Hưng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2017/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Văn D sinh ngày 04 tháng 7 năm 2000, tại Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiê ̣p : làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Q (chết) và bà Trần Thị Kim H; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Trần Thị Kim H - sinh năm: 1971; trú tại: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Là mẹ đẻ của bị cáo. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Quang Nhựt - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Nhựt thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị hại: Chị Phạm Thị P sinh năm 1991; trú tại thôn L, xã Vạn L, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn C sinh năm: 1987; trú tại thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn T sinh năm: 1993; trú tại thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

+ Anh Phan Võ Thái P sinh năm: 2002; trú tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

+ Anh Trần Văn P sinh năm: 2002; trú tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 22 tháng 8 năm 2017 Bùi Văn D cùng thanh niên tên T (chưa xác định được lai lịch) sử dụng xe mô tô của T đi tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến khu vực ruộng G thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì cả hai phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 79S1-6472 của chị Phạm Thị P đang dựng trên đường đất gần mương nước. Lợi dụng không có ai trông coi, D lén lút tiếp cận và dắt xe đến một trại đìa bỏ hoang gần đó. Tại đây T tháo dây điện nguồn xe mô tô để D điều khiển xe và nhà D cất giấu rồi cả hai về nhà ngủ. Sáng ngày 23 tháng 8 năm 2017, Bùi Văn D điều khiển xe mô tô 79S1-6742 đến tiệm Internet “AN” ở thôn T, xã V, huyện V chơi điện tử. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Phan Võ Thái Ph mượn xe mô tô 79S1-6472 và cùng Trần Văn P đi công việc, khi cả hai đang đi vào Cây xăng số 18 thuộc thôn L, xã V để đổ xăng thì bị gia đình chị P phát hiện và thu giữ xe.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 05/CT-KSĐT ngày 26 tháng 12 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa để xét xử bị cáo Bùi Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn D theo tội danh như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh về nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh, về điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Tại Kết luận định giá tài sản số 40/2017/KL-TTHS ngày 08 tháng 9 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu VEMVIPI, màu đen, biển kiểm soát 79S1-6472 bị trộm cắp trị giá 2.760.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn C có ý kiến: Xe mô tô biển kiểm soát 79S1-6472 do anh đứng tên chủ sở hữu, xe không bị hư hỏng gì nên anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường hoặc còn có khiếu nại gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Bị hại đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 79S1-6472 và không có yêu cầu bồi thường gì, tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vạn Ninh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn D đã khai nhâ ̣n hành vi thực hiện việc trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 79S1-6472 như nội dung bản Cáo trạng số 05/CT-KSĐT ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người làm chứng; phù hợp với Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 23 tháng 8 năm 2017 và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 22 tháng 8 năm 2017, tại khu vực ruộng G thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Bùi Văn D đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 79S1-6472 của chị Phạm Thị P trị giá là 2.760.000 đồng (hai triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng). Theo quy định về tội trộm cắp tài sản tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”, nên hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Phạm Thị P trị giá 2.760.000 đồng của bị cáo Bùi Văn D đa đủ yếu tố cấu thành tô ̣̃

i trộm cắp tài sản.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người khác.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tôi lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người chưa thành niên; chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và xét không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta và tự cải tạo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 79S1-6472 và không có yêu cầu bồi thường gì, tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.

Về án phi: Bị cáo Bùi Văn D phải chịu án phi hinh sự sơ thẩm theo quy

́

́ ̀ định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn D phạm tô ̣i “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn D, xử phạt bị cáo Bùi Văn D 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Bùi Văn D cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Về trách nhiê ̣m dân sự: Không xét việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo với bị hại chị Phạm Thị P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn C.

- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ