vanban.org

Bản án 05/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo PLPL phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo PLPL 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/7/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án trộm cắp tài sản, bị cáoPLPL - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo PLPL phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HT
TỈNH TN
Bản án số: 05/2018/HSST
Ngày: 20/3/2018

NHÂN DANH

N

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT, TỈNH TN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ KIM PHỤNG.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà LÊ NGỌC TRẦM.

2. Ông ĐỖ THÀNH NGỌC.

Thư ký phiên tòa: Bà PHẠM HỒNG THÚY LIỄU – Thư ký Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Ông HỒ CHÍ DŨNG – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự thụ lý số: 02/2018/TLST - HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST – HS ngày 06/03/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: PLPL (tên gọi khác: Xil), sinh năm 1991; tại AG; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp BH 1, xã BM, huyện CP, tỉnh AG; chỗ ở hiện nay: ấp LTr, xã LTTr, huyện HT, tỉnh TN; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con PVB (đã chết) và bà LTBL; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/7/2017 và chuyển giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông HKN, sinh năm 1963. Địa chỉ: B11/2b, ấp LTh, xã LTTr, huyện HT, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Anh TKK, sinh năm 1987. Địa chỉ: 2/5C, tổ 5, ấp LTr, xã LTTr, huyện HT, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

3. Chị NNH, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp LTr, xã LTTr, huyện HT, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

4. Chị ĐCCT, sinh năm 1981. Địa chỉ: số 051, đường TQ, kp1, kp1, thành phố TN, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

5. Chị ĐTTN, sinh năm 1999. Địa chỉ: số 051, đường TQ, kp1, kp1, thành phố TN, tỉnh TN (vắng mặt).

6. Anh NDK, sinh năm 2003. Địa chỉ: số 051, đường TQ, kp1, kp1, thành phố TN, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của anh Kng: Ông NDL (cha ruột của anh NDK), sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp Bình Hòa, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

7. Chùa TH Lâm (GK).

Địa chỉ: ấp LTr, xã LTTr, huyện HT, tỉnh TN.

Người đại diện hợp phap của Chùa TH Lâm: Ông CPV (pháp danh: Đại Đức Thích Thiện Nghĩa) – Trù trì chùa TH Lâm (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh NHT, sinh năm 1972. Địa chỉ: số 90, ấp HH, xã HTa, huyện HT, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Anh NTT, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp TP, xã TT, huyện HT, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

3. Anh DHĐK, sinh năm 1984. Địa chỉ: số 1063, đường CMTT, khu phố HB, phường Hiệp N, thành phố TN, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người định giá tài sản: Ông PHS – chuyên viên Phòng Tài chính – kế hoạch huyện HT, tỉnh TN (vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh HMM, sinh năm 1977. Địa chỉ: số 206, ấp HA, xã HTa, huyện HT, tỉnh TN (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa; nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ ngày 19/7/2017, trong lúc đi lang thang tìm tài sản để trộm cắp, PLPL nhìn thấy nhà ông HKN, sinh năm 1963, ngụ ấp LTh, xã LTTr, huyện HT, tỉnh TN ngủ không khóa cửa nên đã lén lút vào trong nhà lấy trộm: 01 xe mô tô nhãn hiệu sirius biển số 70L8 – 2768; 01 tivi nhãn hiệu Panasonic màn hình 32 inch; 01 loa nghe nhạc hiệu Bose; 01 đầu Thkỹ thuật số HD; 01 remote tivi và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Hphone màu đỏ đen đem đến khu vực gần chùa GK cất giấu. Đến sáng cùng ngày, L chạy xe mô tô trộm được đến tiệm sửa xe của anh NVS ở ấp LTh, xã LTTr, huyện HT để sửa và thay đổi đồ nhựa bọc ngoài khung xe nhằm tránh bị phát hiện; loa nghe nhạc và đầu Thkỹ thuật số HD L đem đến tiệm sửa chữa điện tử của anh NHT ở ấp HH, xã HTa, huyện HT gửi sửa. Riêng tivi, L đem đến dịch vụ cầm đồ “Huỳnh Tiên 1” thuộc ấp TP, xã TT, huyện HT do anh NTT làm chủ cầm cố được 2.000.000 đồng thì bị bắt giữ, Thhồi cùng tang vật.

Ngoài ra, L còn thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện HT và thành phố TN, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 08/6/2017, L đi bộ đến chùa GK thuộc ấp LTr, xã LTTr, huyện HT, lén lút leo rào vào khu gian hàng trưng bày đá phong thủy lấy trộm: 55 chiếc vòng đeo tay làm bằng đá cẩm thạch; 15 chiếc nhẫn bằng đá cẩm thạch; 34 con Tỳ hưu làm bằng đá cẩm thạch; 11 chuỗi đeo tay bằng đá cẩm thạch; 10 chuỗi hạt đeo; 20 hạt trồng cơm bằng đá cẩm thạch; 03 tượng phật làm bằng đất nung bên ngoài có mạ lớp kim loại màu vàng, có đế bằng gỗ; 02 con Tỳ hưu làm bằng đá thạch anh; 10 viên đá thạch anh được đặt trên đế gỗ; 01 màn hình vi tính LCD nhãn hiệu Dell loại 19 inch; 01 am ly vi tính điều chỉnh âm thanh nhãn hiệu F&D. Sau khi trộm được tài sản, L đem màn hình vi tính đến tiệm sửa chữa điện tử “Niềm Tin” của anh DHĐK ở ấp Hiệp Trường, xã HTa, huyện HT bán được 200.000 đồng; đem am ly vi tính điều chính âm thanh nhãn hiệu F&D bán cho tiệm sửa chữa điện tử của anh NHT thuộc ấp HH, xã HTa, huyện HT được 60.000 đồng. Riêng các đồ trang sức bằng đá cẩm thạch, tượng phật... L đem đến khu vực bến xe TN bán cho một người phụ nữ không quen biết được số tiền 2.000.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Khoảng 03 giờ ngày 25/6/2017, L đi bộ một mình lén lút đột nhập vào nhà anh TKK, sinh năm 1987, ngụ ấp LTr, xã LTTr, huyện HT lấy trộm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu biển số 70B1 – 457.62; 01 màn hình tivi màu đen nhãn hiệu Asano; 01 điện thoại Samsung T105 Minigoll màu xám; 01 điện thoại di động Nokia 216 màu đỏ; 01 bóp da nam màu đen bên trong có 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên TKK, 02 giấy chứng minh nhân dân cùng mang tên TKK, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 70B1 – 457.62 do anh Dương Văn An, sinh năm 1973, ngụ ấp TS, xã TĐ, huyện CT đứng tên và tiền Việt Nam 200.000 đồng; Sau đó, L tiếp tục vào nhà chị NNH, sinh năm 1973 cạnh nhà anh K lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobii Star lai 1 Gold của chị H đang để sạc pin trên đầu tủ lạnh. Trộm được tài sản, L chạy xe đem theo giấy chứng nhận đăng ký xe đến cửa hàng mua bán xe mô tô “Kim Thu” ở số 2, ấp Hiệp Định, xã HTa, huyện HT do chị ĐTT làm chủ bán được 3.200.000 đồng; đem màn hình tivi bán cho anh NHT chủ tiệm sửa chữa điện tử thuộc ấp HH, xã HTa, huyện HT được 600.000 đồng; đem 03 điện thoại di động đến tiệm điện thoại trên đường Cách Mạng Tháng 8 thuộc thành phố TN (không nhớ bảng hiệu) bán được 1.300.000 đồng. Trên đường đi, L ném bỏ bóp da và 02 giấy chứng minh nhân dân nên Cơ quan điều tra không Thgiữ được, riêng giấy phép lái xe của anh K, L cất giữ.

Vụ thứ ba:

Khoảng 00 giờ, ngày 02/7/2017, L một mình đi bộ lén lút vào nhà chị ĐCCT, sinh năm 1981, ngụ tại số 051, kp1, Kp1, thành phố TN lấy trộm: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 của em ĐTTN; 01 máy tính bảng Huawei của em NDK (Thảo N và Duy Kng là cháu của chị T, sống chung nhà với chị T); lấy của chị T 01 máy tính xách tay màu đỏ hiệu Acer, 01 Ti xách màu nâu bên trong có 02 vòng ximen trọng lượng 01 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai trọng lượng 0,25 chỉ vàng 18K, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên ĐCCT, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 70D1 – 014.67 mang tên ĐCCT, 03 thẻ ATM, 01 giấy hẹn lãnh tiền thuế Thnhập cá nhân. Tài sản trộm được, L đem điện thoại di động và máy tính bảng đến tiệm điện thoại (không nhớ bảng hiệu) trên đường Cách Mạng Tháng 8 thuộc thành phố TN bán được 2.500.000 đồng; đem máy tính xách tay cầm cố tại tiệm dịch vụ cầm đồ “Huỳnh Tiên 1” được 1.300.000 đồng. Vàng, Ti xách và giấy báo lãnh tiền, L ném xuống rạch TN đoạn gần Cầu Quan đến nay chưa Thhồi được, các giấy tờ khác và thẻ ATM của chị T thì L giữ lại.

Tại kết luận định giá tài sản số 26 ngày 25/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HT xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu sirius biển số 70L8 – 2768 có giá 8.000.000 đồng; 01 tivi nhãn hiệu Panasonic màn hình 32 inch giá 4.200.000 đồng; 01 cái loa nghe nhạc hiệu Bose giá 800.000 đồng; 01 đầu Thkỹ thuật HD S20 giá 250.000 đồng, tổng cộng là 13.250.000 đồng. Riêng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Hphone màu đỏ đen đã qua sử dụng. Do không rõ đặc điểm, chủng loại Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện HT không tiến hành định giá.

Tại kết luận định giá tài sản số 27 ngày 26/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HT xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số 70B1 – 457.62 giá 3.200.000 đồng; 01 màn hình tivi Led màu đen nhãn hiệu Asano, 25 inch có giá 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung T105 Minigoll màu xám có giá 250.000 đồng, tổng cộng là 5.950.000 đồng. Riêng 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ, không rõ đặc điểm, chủng loại Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện HT không tiến hành định giá.

Tại kết luận định giá tài sản số 28 ngày 04/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HT xác định: 01 màn hình vi tính LCD nhãn hiệu Dell loại 19 inch có giá 350.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobii Star lai 1 Gold có giá 400.000 đồng, tổng cộng là 750.000 đồng. Riêng 01 loa nhãn hiệu F&D và 01 bóp da nam màu đen do không xác định được chủng loại nên không tiến hành định giá.

Tại kết luận định giá tài sản số 31 ngày 30/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HT xác định: 01 cái remote tivi nhãn hiệu Panasonic có giá là 60.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 57 ngày 11/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố TN xác định: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 có giá 2.200.000 đồng; 01 máy tính xách tay màu đỏ hiệu Acer có giá 2.500.000 đồng; 02 vòng ximen trọng lượng 01 chỉ vàng 18K có giá 2.483.000 đồng; 01 bông tai trọng lượng 0,25 chỉ vàng 18K có giá 620.750 đồng, tổng cộng là 7.803.750 đồng. Riêng 01 máy tính bảng Huawei không đủ cơ sở nên không xác định được giá.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02 ngày 12/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HT xác định: 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ đen, model H222, China đã qua sử dụng có giá 100.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia 2016 màu đỏ giá 400.000 đồng; tổng cộng là 500.000 đồng. Riêng 01 âm ly vi tính điều chỉnh âm thanh nhãn hiện F & D không rõ chuẩn loại năng suất nên không tiến hành định giá. Đối với các tài sản bị mất trộm là đồ trang sức bằng đá Cẩm Thạch, đá Thạch Anh tại chùa GK do không rõ đặc điểm, chủng loại, xuất xứ, thông tin cụ thể nên Hội đồng định giá không tiến hành định giá.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01 ngày 18/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh TN xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobii Star lai 1 Gold có giá là 1.424.000 đồng.

Qua xác minh L không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Đối với NTT, NHT, DHĐK và ĐTT do lúc mua, nhận cầm cố tài sản không biết tài sản do L trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Riêng người phụ nữ mua tài sản của L ở khu vực bến xe TN, hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Bản cáo trạng số: 04/QĐ/KSĐT ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HT đã truy tố bị cáo PLPL về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT giữ quyền công tố tại phiên tòa, trong phần tranh luận đã giữ N quyết định truy tố bị cáo PLPL về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo PLPL mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch Thtiêu hủy các tài sản không còn giá trị sử dụng: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma Ty gồm: 01 ống Thủy tinh có hình dáng tẩu thuốc, 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ trắng, 01 bình nhựa màu trắng có nắp đậy bằng nắp chai nước.

- Trả lại cho bị cáo các tài sản không liên quan đến việc phạm tội:

+ 01 giấy chứng minh nhân dân số 351924807 mang tên PLPL, bị bông tróc;

+ 01 nón vải màu nâu xám đã qua sử dụng;

+ 01 đầu cắm sạc điện thoại Sam sung màu trắng đã qua sử dụng;

+ 01 bóp da màu đen, nhãn hiệu Gioroio Armani đã qua sử dụng;

+ 01 Ti xách màu đen, không có nhãn hiệu.

+ Số tiền 1.800.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho anh NTT tài sản không liên quan đến việc phạm tội: 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng số Imel: 35739052040267/01.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ghi nhận các bị hại HKN, TKK, NNH, ĐCCT, NDK, Chùa TH Lâm không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại ĐTTN và yêu cầu của người có quyền L, nghĩa vụ liên quan anh NHT, anh NTT và anh DHĐK.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố, đồng ý bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại và người có quyền L, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo PLPL đã Ki nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo PLPL phù hợp với biên bản về việc bắt người, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời Ki của bị hại, lời Ki của người làm chứng, lời Ki của người có quyền L, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 08/6/2017 đến ngày 19/7/2017, bị cáo PLPL đã L dụng sự sơ hở của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại tổng trị giá 29.537.750 đồng và một số tài sản không tiến hành định giá được, cụ thể như sau:

- Chiếm đoạt tài sản của ông HKN trị giá 13.410.000 đồng gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu sirisu biển số 70L8 – 2768 trị giá: 8.000.000 đồng; 01 tivi Panasonic màn hình 32 inch trị giá: 4.200.000 đồng; 01 loa nghe nhạc màu đen hiệu Bose trị giá 800.000 đồng; 01 đầu Thkỹ thuật số HD S20 nhãn hiệu VTC trị giá 250.000 đồng; 01 remote tivi trị giá: 60.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Hphone màu đỏ đen, model H222 trị giá 100.000 đồng.

- Chiếm đoạt tài sản của anh TKK trị giá 6.550.000 đồng gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu biển số 70B1 – 457.62 trị giá: 3.200.000 đồng; 01 tivi Asano màu đen màn hình 25 inch, nhãn hiệu Led trị giá 2.500.000 đồng; 01 điện thoại Samsung T105 Minigoll màu xám trị giá 250.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 216 màu đỏ trị giá 400.000 đồng và 01 bóp da màu đen bên trong có 01 số giấy tờ tùy thân của anh K và 200.000 đồng.

- Chiếm đoạt tài sản của chị NNH 01 điện thoại di động Mobii Star lai 1 Gold trị giá 1.424.000 đồng.

- Chiếm đoạt tài sản của chị ĐCCT trị giá 5.603.750 đồng gồm: 01 laptop nhãn hiệu Acer, màu đỏ đen trị giá 2.500.000 đồng; 01 Ti xách màu nâu bên trong có 02 vòng ximen trọng lượng 01 chỉ vàng 18K trị giá 2.483.000 đồng; 01 đôi bông tai trọng lượng 0,25 chỉ vàng 18K trị giá 620.750 đồng và một số giấy tờ tùy thân của chị T.

- Chiếm đoạt của chị ĐTTN 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 trị giá 2.200.000 đồng.

- Chiếm đoạt tài sản của em NDK 01 máy tính bảng hiệu Huawei (không định giá được).

- Chiếm đoạt của Chùa TH Lâm (GK) gồm: 01 màn hình vi tính hiệu Dell loại 19 inch trị giá 350.000 đồng, 01 âm ly vi tính nhãn hiệu F & D và 01 số đồ trang sức bằng đá cẩm thạch, thạch anh (không định giá được).

Hành vi nêu trên của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Mặt dù hành vi phạm tội của bị cáo L được thực hiện trước ngày 01/01/2018, nhưng áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì luật áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo là Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện HT truy tố bị cáo PLPL về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang và bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng với bản chất tham lam, lười lao động và xem thường pháp luật đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Để có tiền tiêu xài bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác, bị cáo thường đi bộ một mình trên địa bàn huyện HT và thành phố TN, L dụng lúc đêm khuya khi mọi người ngủ say để tìm tài sản trộm cắp. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội liên tục nhiều lần đối với nhiều người trong khoảng thời gian ngắn, trong đó có 03 lần thực hiện hành vi phạm tội đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự gồm: tại nhà anh TKK và chị Nguyễn Thị H ngày 25/6/2017 với trị giá tài sản là 7.794.000 đồng, tại nhà của chị ĐCCT ngày 02/7/2017 với với trị giá tài sản là 7.803.750 đồng và tại nhà của ông HKN ngày 19/7/2017 với trị giá tài sản là 13.410.000 đồng, nên cấn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Cần có mức án thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo L khi bị bắt đã tự nguyện Ki ra các lần phạm tội trước đó nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự thú” được quy định tại điểm r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do đó, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT đề nghị là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch Thtiêu hủy các tài sản không còn giá trị sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo và anh NTT các tài sản không liên quan đến việc phạm tội; đối với số tiền 1.800.000 đồng thì trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ghi nhận bị hại HKN đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ghi nhận người bị hại TKK, Chùa TH Lâm (GK), NNH, ĐCCT, NDK và người đại diện là ông NDL không yêu cầu bị cáo bồi thường về phần tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với yêu cầu bồi thường của chị ĐTTN, anh NHT, anh NTT và anh DHĐK, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo PLPL phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo PLPL 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/7/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch Thtiêu hủy: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma Ty gồm: 01 ống Thủy tinh có hình dáng tẩu thuốc, 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ trắng, 01 bình nhựa màu trắng có nắp đậy bằng nắp chai nước.

- Trả lại cho bị cáo:

+ 01 giấy chứng minh nhân dân số 351924807 mang tên PLPL, bị bông tróc;

+ 01 nón vải màu nâu xám đã qua sử dụng;

+ 01 đầu cắm sạc điện thoại Sam sung màu trắng đã qua sử dụng;

+ 01 bóp da màu đen, nhãn hiệu Gioroio Armani đã qua sử dụng;

+ 01 Ti xách màu đen, không có nhãn hiệu.

+ Số tiền 1.800.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho anh NTT 01 máy tính bảng hiệu Samsung màu trắng số Imel: 35739052040267/01.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ghi nhận bị hại HKN đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ghi nhận người bị hại TKK, Chùa TH Lâm (GK), NNH, ĐCCT, NDK và người đại diện là ông NDL không yêu cầu bị cáo bồi thường về phần tài sản nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho:

- Chị ĐTTN số tiền 2.200.000 đồng.

- Anh NHT: 650.000 đồng.

- Anh NTT: 3.300.000 đồng.

- Anh DHĐK: 200.000 đồng.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Bị cáo PLPL phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 317.500 đồng (Ba trăm mười bảy ngàn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng những bị hại và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ