vanban.org

Bản án 05/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 17/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vi Quốc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 7; Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vi Quốc Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Quoc Th - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Quốc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------------------------------------------------
Bản án số:05/2018/HS-ST
Ngày: 17 - 01 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc

2. Ông Nguyễn Văn Giang

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Chiến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Bùi Quang Trung, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 160/2017/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐXX - HS ngày 04/01/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: VI QUỐC TH- Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1991, tại huyện V, tỉnh L; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn Khe Hồng, xã S, huyện V, tỉnh L; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Vi Ngọc Th - sinh năm 1964; Con bà Đỗ Thị H - Sinh năm 1966; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 08/11/2017, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 07/11/2017, Vi Quốc Th đang ở tỉnh L, thì được người bạn tên là Đ (không rõ lai lịch, địa chỉ) gọi điện thoại nhờ mua hộ 2.000.000 đồng ma túy Heroine rồi mang ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh cho Đ, Th đồng ý. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Th nhận được số tiền 2.000.000 đồng (do Đạt chuyển khoản qua Ngân hàng) và đi đến thị trấn V, tỉnh L mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 20 gói ma túy Heroine với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua, Th lấy 01 gói ma túy vừa mua ra sử dụng và cất giấu 19 gói ma túy còn lại vào gấu quần bò bên trái đang mặc rồi đón xe khách ra thành phố M. Khoảng 07 giờ ngày 08/11/2017, Th ra đến thành phố M và đang đứng ở khu vực phía sau bến xe khách M thuộc khu 5, phường K, thành phố M, chờ gặp Đ để đưa số ma túy trên, thì bị Công an phường K, thành phố M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ của Th 01 vỏ túi cà phê bên trong có 19 gói giấy bạc đều chứa chất bột màu trắng, tổng trọng lượng là 1,086 gam (một phẩy không tám sáu gam) Heroine (theo Kết luận giám định số 738/GĐMT ngày 13/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Asus.

Tại bản cáo trạng số 04/KSĐT ngày 19/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố Vi Quốc Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo Vi Quốc Th. Kiểm sát viên đánh giá về bị cáo: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng: Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 3 Điều 7; Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vi Quốc Th từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, không phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì số 738/GĐMT được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn. Bên trong phong bì chứa mẫu vật hoàn lại kèm theo KLGĐ số 738/GĐMT; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động ASUS vỏ đen, lắp sim số 0973.292.861.

Bị cáo Vi Quốc Th khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hành vi bị cáo thực hiện bị truy tố còn có đối tượng tên Đ và thanh niên bán ma túy cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đều không thể xác định rõ được lai lịch, địa chỉ của những người đó. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt thấp để bị cáo yên tâm cải tạo và sớm được hòa nhập xã hội.

Căn cứ quá trình tranh tụng, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, với vật chứng thu giữ, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà, thể hiện: Bị cáo quen biết một thanh niên tên Đ ở thành phố M. Đ có gọi điện thoại nhờ bị cáo mua ma túy Heroine và mang ra M cho Đ. Vào hồi 16 giờ ngày 07/11/2017, bị cáo ra thị trấn V mua ma túy. Bị cáo mua 2 triệu đồng ma túy của một người đàn ông không quen biết, anh ta đưa cho bị cáo 20 gói ma túy Heroine để trong một vỏ túi đựng cà phê. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã lấy ra một gói sử dụng cho bản thân. Còn 19 gói, bị cáo cho vào nếp gấp của gấu quần bò bên phải mà bị cáo đang mặc. Khoảng 19 gờ ngày 07/11/2017, bị cáo lên xe khách từ tỉnh L ra thành phố M, đến khoảng hơn 7 giờ ngày 08/11/2017, bị cáo đến thành phố M. Khi đang đi tại đường P thuộc khu 5, phường K, thành phố M thì bị Tổ công tác tuần tra của Công an phường K đưa về trụ sở để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra Công an đã phát hiện 19 gói ma túy Heroine bị cáo đang cất giấu tại gấu quần bò bên trái mà bị cáo đang mặc trên người. Cơ quan Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang.

Người làm chứng anh Đoàn Quang Đ vắng mặt có lời khai trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng 7 giờ 20 phút, ngày 08/11/2017 anh được Lực lượng Công an mời về trụ sở Công an phường K để chứng kiến việc kiểm tra hành chính 01 thanh niên lạ mặt anh không quen biết. Tại trụ sở Công an, người thanh niên khai tên là Vi Quốc Th, sinh ngày 12/8/1991, nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 8, xã S, huyện V, tỉnh L. Kiểm tra người anh Th phát hiện tại gấu quần bò bên trái được xắn lên mà Th đang mặc có 01 vỏ túi cà phê đã bị cắt, bên trọng đựng 19 gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Vi Quốc Th khai nhận chất bột màu trắng là ma túy Heroine. Th mua của một thanh niên không quen biết ở tỉnh L với giá 2 triệu đồng. Sau đó cất giấu trong người bắt xe khách từ tỉnh L xuống Quảng Ninh để đưa số ma túy này cho một người tên Đ (Th chỉ biết Đ ở M, Quảng Ninh, không biết địa chỉ cụ thể) nhưng chưa kịp giao thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Heroine là chất ma túy được quy định tại danh mục ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất. Bị cáo Vi Quốc Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ ma túy là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội. Nhưng vì bất chấp pháp luật bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo Vi Quốc Th trực tiếp xâm phạm đến quy định của pháp luật về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, hành vi của bị cáo c ng là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự xã hội, tiếp tay cho các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy và là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm khác. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, kết luận bị cáo Vi Quốc Th phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Với tội phạm mà bị cáo Vi Quốc Th đã thực hiện cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ở mức tương xứng với hành vi của bị cáo. Xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Quá trình Cơ quan tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội không phải chịu tình tiết tăng nặng. Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử xét mức hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Vi Quốc Th c ng như việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định, đảm bảo trừng trị và giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” ...

c, Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.

Như vậy, xét khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có nhẹ hơn so với khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 - Bộ luật hình sự năm 1999, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử cần áp dụng có lợi cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, Nhưng cho dù xem xét đến đâu c ng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Số lượng ma túy hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại ASUS là công cụ phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo Vi Quốc Th phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án có đối tượng tên Đ nhờ bị cáo mua ma túy và thanh niên bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Vi Quốc Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 7; Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Vi Quốc Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/11/2017.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì số 738/GĐMT được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, còn nguyên vẹn. Bên trong phong bì chứa mẫu vật hoàn lại kèm theo KLGĐ số 738/GĐMT.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động ASUS vỏ đen, lắp sim số 0973.292.861.

(Tình trạng các vật chứng trên thể hiện trong Biên bản giao nhận vật chứng số 36/2018/THA ngày 20/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố M).

- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Bị cáo Vi Quốc Th phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ