vanban.org

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày 20/9/2014 cho bà Nguyễn Thị Hoa Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh ngày 03/9/2011 cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Vì lợi ích của con, khi cần thiế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 01 - 2018
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chung

Ông Nguyễn Ràng

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Trần Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 19/01/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 602/2017/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2017 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoa Ph

Cư trú tại: Cát Lợi, Vĩnh Lương, Nha Trang, Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T

Cư trú tại: Thôn Phú Hữu, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoa Ph trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa. Quá trình chung sống của vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, ông T không có trách nhiệm với gia đình, vợ con nên vợ chồng hay kình cãi và mâu thuẫn kéo dài. Bà và ông T không còn chung sống với nhau từ tháng 12/2014 cho đến nay nên không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai nữa. Nay tình cảm của bà dành cho ông T không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Vợ chồng bà có 02 con chung là Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh ngày 03/9/2011 và Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày 20/9/2014. Bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng hai cháu và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình trốn tránh không có mặt nên không có bản tự khai và không tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tại phiên tòa sơ thẩm:

+ Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Hoa Ph được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Nguyện vọng bà P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày 20/9/2014 và cháu Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh ngày 03/9/2011 đang sống chung với ông T đề nghị Tòa tiếp tục giao cháu N cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn T có hộ khẩu thường trú tại: thôn Phú Hữu, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ông T đang cư trú và sinh sống tại thôn Phú Hữu, xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa. Hiện ông T có mặt tại địa phương nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207; Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Hoa Ph và ông Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng bà P, ông T không hạnh phúc do bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn gia đình thường xuyên xảy ra và kéo dài, khả năng hàn gắn tình cảm và đoàn tụ gia đình không còn. Ông T không lo chăm sóc gia đình, bỏ bê vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và bà đã sống ly thân từ tháng 12/2014 cho đến nay, mạnh ai nấy sống không ai còn quan tâm đến ai nữa. Hơn nữa, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình không đến Tòa làm việc, chứng tỏ ông T không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình với bà P. Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn là phù hợp và thỏa đáng.

Về con chung: Bà P và ông T có 02 con chung là Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh ngày 03/9/2011 và Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày 20/9/2014. Nguyện vọng bà P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kiệt và để ông T trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Xét thấy, hiện tại cháu Kiệt đang do bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Cháu N đang chung sống cùng với ông T. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Hoàng Tuấn K cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và giao cháu Nguyễn Thị Thanh Ng cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoa Ph phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015;

- Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207, Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Hoa Ph được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh ngày 20/9/2014 cho bà Nguyễn Thị Hoa Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thị Thanh Ng, sinh ngày 03/9/2011 cho ông Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Bà P và ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung: Bà P không yêu cầu Tòa giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoa Ph phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0003290 ngày 09/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà P đã nộp đủ án phí HNGĐ sơ thẩm.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ