vanban.org

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị L đối với anh Triệu Thành D.

Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D chấm dứt kể từ thời điểm bản án này có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị L, anh D về việc sau khi ly hôn giao con chung tên Triệu Minh T, sinh ngày 24/02/2010 cho chị Đặng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa chị L và anh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị L đối với anh Triệu Thành D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 23 -4-2018
V/v: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Thoại

2. Ông Bế Kim Phong

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Hồng Nụ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nông Thiện Doanh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2018/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2018 về việc " Ly hôn " theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị L; Sinh năm 1987; (Có mặt)

Địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

2. Bị đơn: Anh Triệu Thành D; Sinh năm 1983; (Vắng mặt có lý do)

Địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Hiện đang chấp hành án tại Đội 13, phân trại số 02, trại giam T, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2018 và trong quá trình giải quyết, xét xử nguyên đơn chị Đặng Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Triệu Thành D có địa chỉ tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng kết hôn ngày 08/9/2008 trên cơ sở tự nguyện, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi kết hôn, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D sử dụng ma túy, chị đã nhắc nhở, khuyên giải nhiều lần nhưng anh D không từ bỏ ma túy được, nên vợ chồng cũng thường xảy ra cãi cọ và chị cảm thấy cuộc sống vất vả bản thân một mình nuôi con. Quá trình mẫu thuẫn đã kéo dài từ lâu, đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Năm 2014, anh D có hành vi vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án tại Đội 13, phân trại số 02, trại giam T, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, kể từ đó vợ chồng sống đã sống ly thân từ ngày 06/6/2014 cho đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh D.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Triệu Minh T, sinh ngày 24/02/2010. Hiện nay, con đang sống cùng với chị tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Sau khi ly hôn con chung chị sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, do bị đơn đang chấp hành án tại trại giam T, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ nên không tham gia phiên họp được do đó Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giảỉ được. Ngày 21 tháng 02 năm 2018 Tòa án đã ra Quyết định Ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã nhận được các văn bản tố tụng do Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ chuyển đến là bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt của anh Triệu Thành D.

Tại bản tự khai ngày 30/03/2018 của anh Triệu Thành D trình bày:

- Về hôn nhân: Anh D xác nhận về điều kiện, thời gian kết hôn với chị L đúng như chị L đã trình bày.

Về quá trình chung sống vợ chồng: Theo anh D, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2014, anh D có hành vi vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù, kể từ đó anh không thể chăm sóc, quan tâm nhau nữa. Hiện nay, chị L có đơn xin ly hôn với anh, anh nhất trí theo yêu cầu của chị L, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị L được ly hôn.

- Về con chung: Anh D thừa nhận vợ chồng có 01 con chung là Triệu Minh T, sinh ngày 24/02/2010. Khi ly hôn, con chung anh nhất trí theo yêu cầu của chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và anh không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về các vấn đề khác: không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn anh Triệu Thành D. Bị đơn anh Triệu Thành D vắng mặt xét xử tuy nhiên đã có ý kiến chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về các vấn đề hôn nhân, nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Việc thu thập tài liệu, chứng cứ thực hiện đúng quy định và đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng.

Việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Áp dụng các điều 54, 56 ,58, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án đã được thẩm tra, trên cơ sở những lời trình bày và kết quả tranh luận của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị L kết hôn với anh Triệu Thành D, địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nay, chị L khởi kiện xin ly hôn với anh D, nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp "Ly hôn" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị L và anh Triệu Thành D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng vào ngày 08/9/2008 trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau. Do vậy, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D là hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị L và anh D Đã phát sinh mâu thuẫn. Chị L khai: Sau khi kết hôn, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi cọ với lý do anh D nghiện ma túy, mặc dù đã được chị và hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị L và anh D đều cùng thừa nhận năm 2014, anh D có hành vi vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án tại Đội 13, phân trại số 2, trại giam T, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, kể từ đó vợ chồng sống ly thân và tình cảm vợ chồng trở nên xa cách. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh D, phía anh D cũng nhất trí ly hôn. Xét thực tế quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị L và anh Triệu Thành D đã không thể tiếp tục được nữa, cả chị L và anh D đều có nguyện vọng được giải quyết ly hôn, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị L và anh D có một con chung tên Triệu Minh T, sinh ngày 24/02/2010. Hiện nay, con đang ở với chị L tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Ghi nhận ý kiến của chị L, anh D về việc sau khi ly hôn con chung sẽ giao cho chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi thành niên và chị không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh D đều xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Áp dụng Khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện viện kiểm sát phát biểu là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 235; Điều 266; Điều 267; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị L đối với anh Triệu Thành D.

Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D chấm dứt kể từ thời điểm bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị L, anh D về việc sau khi ly hôn giao con chung tên Triệu Minh T, sinh ngày 24/02/2010 cho chị Đặng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ tuổi thành niên (18 tuổi). Anh Triệu Thành D được quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật, không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc chị L không yêu cầu anh D phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh D cùng xác nhận không có tài sản chung và vay, nợ chung vợ chồng. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn sung công quỹ Nhà nước nhưng được đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AB/2012/02219 ngày 12/01/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà An - Cao Bằng. Nay, xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ