- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng D về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Chị Lê Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2018/HNGĐ - ST Ngày: 26 - 02 - 2018 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Mai Du
Ông Nguyễn Hồng Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2017/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2017 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2018/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng D, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Thôn 3, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm: 1977; Nơi cư trú cuối cùng: Đội 1, thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 19/10/2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 09/11/2017, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Hồng D trình bày:
Chị và anh Nguyễn Ngọc A tự tìm hiểu yêu thương nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 21/6/2010 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do anh A không lo làm ăn, ham mê cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh A không nghe mà còn xúc phạm, đánh đập chị. Từ tháng 9 năm 2014 anh A bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay, chị và gia đình hai bên tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của anh A. Tháng 4 năm 2017 chị có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tuyên bố anh Nguyễn Ngọc A mất tích và tại Quyết định số 01/2017/QĐDS - ST ngày 30 tháng 8 năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên bố anh Nguyễn Ngọc A mất tích. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, để ổn định cuộc sống và nuôi dạy con cái, chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc A.
Về con chung: Chị và anh A có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Hoàng Y, sinh ngày 19/10/2011 hiện nay cháu đang ở với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh A cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
2. Bị đơn Nguyễn Ngọc A không có lời trình bày.
3. Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thẩm quyền, thời hạn chuẩn bị xét xử, xác minh thu thập chứng cứ, thời hạn gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và tống đạt các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Nguyên đơn chấp hành theo đúng quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành theo đúng quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Hồng D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc A được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh A.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị Hồng D và anh Nguyễn Ngọc A kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy đăng ký kết hôn vào ngày 21/6/2010 nên quan hệ hôn nhân của chị D, anh A là hợp pháp.
Theo chị D trình bày thì trong quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh A không chăm lo gia đình, cờ bạc, rượu chè, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh A không nghe mà còn xúc phạm, đánh đập chị, từ tháng 9 năm 2014 anh A bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay, chị D và gia đình tìm kiếm mọi biện pháp nhưng vẫn không có kết quả. Tháng 4 năm 2017 chị có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tuyên bố anh Nguyễn Ngọc A mất tích. Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án đã đăng phát thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Ngọc A trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không có tin tức gì của anh A, do đó Quyết định số 01/2017/QĐDS - ST ngày 30 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên bố anh Nguyễn Ngọc A mất tích. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc A. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ lời trình bày và yêu cầu ly hôn của chị D.
Về con chung: Chị D và anh A có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Hoàng Y, sinh ngày 19/10/2011, vì hiện nay anh A mất tích, cháu Y từ nhỏ sống với chị D, nên giao cháu Y cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị D không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Hồng D trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Lê Thị Hồng D phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2014/0004480 ngày 09 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 35, 147, 227, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng D về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Chị Lê Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc A.
2.Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Hoàng Y, sinh ngày 19/10/2011 cho chị Lê Thị Hồng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Ngọc A không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Ngọc A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Hồng D trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4.Về án phí: Chị Lê Thị Hồng D phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2014/0004480 ngày 09 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.
Chị Lê Thị Hồng D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Ngọc A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Quảng Ngãi; -VKSND huyện Tư Nghĩa; -Chi cục THADS huyện Tư Nghĩa; -UBND xã N; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Mỹ Dung |