vanban.org

Bản án 05/2018/HNGD-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng : Điều 28, điều 35, 39, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238, điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 68 Bộ Luật dân sự năm 2015. Áp dụng: Khoản 2 điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Đăng Thi Kim Th ly hôn với ngươi mất tích Nguyễn Đức Ch"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng : Điều 28, điều 35, 39, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238, điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30/3/2018
Về việc: “Tranh chấp ly hôn với người mất tích“

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC – TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Trọng Hải

- Hội thẩm nhân dân :

- Bà Võ Lệ Huyền

- Bà Trần Thị Hạnh

- Thư Ký phiên toà: Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký tòa án nhân huyện Châu Đức.

- Đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 463/2017/TLST – HNGÑ ngày 22 tháng 12 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn với người mất tích”

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/3/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Kim Th, sinh năm: 1979.

Địa chỉ : Tổ 4, thôn S, xã S, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Ch, sinh năm: 1975.

HKTT: Tổ 4, thôn S, xã S, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu.

Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Tổ 4, thôn SN, xã SN, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu.

(Vắng mặt theo Quyết định tuyết bố mất tích số: 10/2017/QĐDS-ST ngày 26/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/11/2017, biên bản lấy lời khai ngày 05/3/2018 và các biên bản làm việc khác thì chị Đặng Thị Kim Th trình bày:

Anh Nguyễn Đức Ch và chị Đặng Thị Kim Th chung với nhau và đến ngày 05/9/2005 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã SN, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trên cở sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng về sống chung tại xã SN và hạnh phúc được một thời gian đến giữa năm 2008. Không hiểu lý do vì sao mà từ tháng 10 năm 2008 thì anh Ch bỏ nhà đi, gia đình không biết đi đâu. Chị Th và gia đình đã nổ lực đi tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức của anh Ch. Nơi cư trú cuối cùng của anh Ch trước khi bỏ nhà đi là Tổ 4, thôn SN, xã SN, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do anh Ch bỏ đi mà không có tin tức nên Chị Th đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Ch mất tích với lý do để xin ly hôn. Sau khi thụ lý Tòa án đã có thông báo trên các Báo và Đài phát thanh Trung ương nhưng vẫn không thấy tung tích của anh Ch ở đâu. Ngày 26/10/2017 Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đã ban hành Quyết định số 10/2017/QĐDS-ST tuyên bố anh Nguyễn Đức Ch mất tích.

Kể từ khi có Quyết định của Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Đức Ch mất tích đến nay chị Th cũng không thấy anh Nguyễn Đức Ch xuất hiện vì vậy chị Th mới khởi kiện tới Tòa án nhân dân huyện Châu Đức để yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Đức Ch.

Đến nay chị Đặng Thị Kim Th vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giải quyết cho chị Th được ly hôn với anh Nguyễn Đức Ch.

Về con chung: Có một con là cháu Nguyễn Đức T sinh ngày: 03/02/2006, cháu T có nguyện vọng sống với chị Th. Từ ngày anh Ch bỏ đi chị Th là người trực tiếp nuôi dưỡng, nay chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yều cầu anh Ch Cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Đức Ch do đã bỏ đi và đã có Quyết định tuyên bố mất tích nên Tòa án nhân dân huyện châu Đức không thể triệu tập để lấy lời khai và hòa giải được.

Chị Đặng Thị Kim Th có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Chị Đặng Thị Kim Th và anh Nguyễn Đức Ch sống chung với nhau từ năm 2005 là hoàn tự nguyện có đăng ký kết hôn đúng pháp luật. Hiện nay chị Đặng Thị Kim Th đang cư trú tại xã SN, huyện Châu Đức, anh Nguyễn Đức Ch có nơi cư trú cuối cùng tại xã SN. Nay chị Th có yêu cầu ly hôn căn cứ vào khoản 1, điều 28, điểm a, khoản 1, điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.

Chị Đặng Thị Kim Th và anh Nguyễn Đức Ch sau khi kết hôn hoàn toàn tự nguyện và chung sống hạnh phúc được 3 năm đến tháng 10 năm 2008 anh Ch đột ngột bỏ đi và không nói rõ lý do, cũng từ đó gia đình không liên lạc được cho đến nay. Sau khi anh Ch bỏ đi chị Th đã đi tìm mọi cách liên lạc khắp nơi nhưng không đạt kết quả. Do anh Nguyễn Đức Ch bỏ đi mà không có tin tức gì nên chị Đặng Thị Kim Th có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Đức Ch mất tích với lý do để xin ly hôn. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của chị Đặng Thị Kim Th đối với anh Nguyễn Đức Ch; Tòa án đã thông báo tìm kiếm anh Ch trên thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức. Ngày 26/10/2017 Tòa án nhân dân huyện Châu Đức đã ban hành Quyết định số 10/2017/QĐDS-ST tuyên bố anh Nguyễn Đức Ch mất tích.

Đến nay chị Th vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh Ch. Như vậy cho đến thời điểm này tình cảm vợ chồng giữa chị Th và anh Ch là không còn, hai người không còn sống chung với nhau nhiều năm, không còn liên lạc, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, anh Ch bỏ chị Th ra đi mà không cùng với chị Th lo vun vén để tạo dựng hạnh phúc gia đình. Từ ngày anh Ch bỏ đi đến nay chị Th đã có nhiều cố gắng tìm kiếm anh Ch và Tòa án cũng đã có thông báo tìm kiếm nhưng không mang lại kết quả, vì vậy cho dù chị Th có muốn hàn gắn lại hạnh phúc gia đình cũng không thể đạt được, mẫu thuẫn đã đến mức trầm trọng dẫn đến cuộc sống hôn nhân không thể tồn tại và kéo dài.

Áp dụng pháp luật: Căn cứ vào khoản 2, điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh Ch là cơ sở.

Về con chung: Có một con chung là cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày: 03 tháng 02 năm 2006, từ ngày anh Ch bỏ đi chị Th là người trực tiếp nuôi dưỡng, nay chị Th yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yều cầu anh Ch cấp dưỡng. Qua yêu cầu của chị Th thì thấy từ ngày anh Ch bỏ đi chị Th là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dạy con đến nay cháu vẫn phát triển tốt. Căn cứ điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nay chị Th có yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng là có căn cứ nghĩ nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đặng Thị Kim Th chịu toàn bộ án phí.

Chị Đặng Thị Kim Th có đơn xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Đức Ch đã mất tích nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 227, điều 228, 238 BLTTDS xét xử vắng mặt anh Ch và chị Th.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng : Điều 28, điều 35, 39, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238, điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng: Điều 68 Bộ Luật dân sự năm 2015.

Áp dụng: Khoản 2 điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng : Khoản 8 điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án.

Chấp nhận toaøn boä yêu cầu của chị Đặng Thị Kim Th ñoái với anh Nguyễn Đức Ch trong việc tranh chấp ly hôn với người mất tích.

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Kim Th được ly hôn anh Nguyễn Đức Ch.

Về con chung: Có con một là cháu Nguyễn Đức T sinh ngày: 03 tháng 02 năm 2006 chị Đặng Thị Kim Th được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án xem xét nên không giải quyết.

Về án phí HNST: Chị Đặng Thị Kim Th nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000(ba trăm ngàn)đồng chị Đặng Thị Kim Th đã nộp theo biên lai thu số: 0000113 ngày 22/12/2017 của Chi cục thi hành án thi hành án dân sự huyện Châu Đức chị Đặng Thị Kim Th đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự .

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ