- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "vụ án Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: - Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2018/HNGĐ-ST Ngày: 26/3/2018 V/v “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Bà Lê Thị Hiệu
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:" Ông Lê Văn Lợi
Bà Hoàng Thị Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.
Ngày 26 tháng 3 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2017/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2017 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXX-ST ngày 22 tháng 02 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2018/QĐST-DS ngày 15/3/2018, giữa các đương sự:
-"Nguyên"đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm: 1981, có mặt
- Bị"đơn:"Anh Nguyễn Đình Th, sinh năm: 1978, vắng mặt
Đều cư trú tại: Thôn 8, xã L, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn là chị Bùi Thị T trình bày và yêu cầu: Giữa nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Đình Th đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 83/2017/QĐST-HNGĐ ngày 08/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Theo Quyết định số 83 thì chị T và anh Th thuận tình ly hôn; anh Th và chị T có 02 con chung là Nguyễn Đình Hải N, sinh ngày 07/11/2003 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 11/3/2011, chị T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản thì chị T và anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi ly hôn, đến ngày 16/10/2017, chị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án gải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể chị T sẽ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc D, anh Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình Hải N, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Lý do là chị T công việc không ổn định nên khó khăn để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con. Về tài sản chung của chị T và anh Th trong thời kỳ hôn nhân gồm 150m2 đất ở tại thửa số 296 tờ bản đồ số 8 bản đồ địa chính xã L, huyện Q, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/9/2004 đứng tên Nguyễn Đình Th; trị giá thửa đất 90.000.000đ; tài sản trên đất là một móng nhà và đã xây tường xung quanh trên móng, trị giá 100.000.000đ. Tổng giá trị tài sản của anh Th và chị T là 190.000.000đ. Chị T có nguyện vọng chia đôi giá trị tài sản giữa chị T và anh Th, nhưng anh Th lấy tài sản và phải trả lại cho chị T số tiền chênh lệch là 95.000.000đ.
Bị đơn là anh Nguyễn Đình Th trình bày và yêu cầu: Thống nhất với trình bày của chị T rằng anh Th và chị T trong thời kỳ hôn nhân có những tài sản chung là 150m2 tại thửa 296 trị giá khoản 150.000.000đ; trên đất đã xây móng nhà và tường xung quanh trên móng trị giá 202.000.000đ. Nguyện vọng của anh Th là anh Th sẽ sử dụng đất và móng nhà nói trên và trả cho chị T ½ giá trị tiền đất là 75.000.000đ; đối với móng nhà và tường trị giá 202.000.000đ, số tiền này anh Th vay toàn bộ để xây nên anh Th có quyền sử dụng và anh Th có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ 202.000.000đ; về con chung thì anh Th có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu chị Tâm cấp dưỡng.
Ngày 29/12/2017, chị T rút một phần yêu cầu khởi kiện đó là yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn, chị T chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và tại phiên Tòa hôm nay, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Anh Th vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Bùi Thị T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản sau khi ly hôn và thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa theo quy định khoản 1 và khoản 3 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị T có mặt, anh Th vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 29/12/2017 chị Tâm rút một phần yêu cầu khởi kiện đó là yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn, chỉ yêu cầu Tòa án gải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc chia tài sản sau khi ly của chị Tâm là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn.
Đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Hội đồng xét xử thấy rằng chị T và anh Th có 02 con chung, khi ly hôn chị T và anh Th thỏa thuận chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung và anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên theo trình bày của chị T, sau khi chị trực tiếp nuôi con được một thời gian ngắn thì công việc và thu nhập của chị không ổn định nên chị không có khả năng trực tiếp nuôi cả hai con chung. Nguyện vọng của chị là để anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình Hải N, chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc D và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Th thì có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ thực tế điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung của anh Th chị T thì cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T để giao cháu N cho anh Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giao cháu D cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo phát triển về mọi mặt cho các con. Việc giao con như trên cũng phù hợp với ý kiến, nguyện vọng của hai cháu, cháu N có nguyện vọng ở với bố, cháu D ngày 29/12/2017 có nguyện vọng ở với bố nhưng đến ngày 22/02/2018 thì lại có nguyện vọng ở với mẹ và hiện nay cháu N đã chuyển về ở với anh Th, cháu D ở với chị T. Vì vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị T.
Về án phí: Chị T rút yêu cầu về chia tài sản sau khi ly hôn nên không phải chịu tiền án phí. Đối với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị T được Tòa án chấp nhận nên anh Th phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ: - Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
* Xử: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn của chị Bùi Thị T, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
Chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Bùi Thị T. Giao cháu Nguyễn Đình Hải N cho anh Nguyễn Đình Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Ngọc D cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T và anh Th không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
* Về án phí: Chị T không phải chịu án phí, trả lại cho chị T số tiền tạm ứng án phí là 2.425.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2014/0000209 ngày 24/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND huyện Quảng Xương; - THADS huyện Quảng Xương; - UBND xã L, Quảng Xương; - Các đương sự; - Lưu HS. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Hiệu |