vanban.org

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

gia đình; Lu t phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố không công nh n quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Vân Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Vân A và Bùi Văn V không công nhận quan hệ vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? gia đình; Lu t phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố

Số: 05/2018/HNGĐ-ST

Ngày: 09/02/2018

TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIÊT N M QUẬN D Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v không công nh n quan hệ vợ chồng giữa bà Vân A và ông V NHÂN D NH NƯỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ H I PHÒNG

- ới thành phần H i đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩ phán - Chủ to phiên toà: Ông Vũ Quang Trung Các Hội thẩ nhân dân: 1. Ông Bùi Đắc Tuyền 2. Bà Phạm Thị Hằng - Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng – Thư ký tòa án Toà án nhân dân qu n D, thành phố Hải Phòng. - Đại diện viện kiểm sát quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Đ m - Kiểm sát viên Ngày 09/02/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân qu n D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2017 về việc “không công nh n quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/01/2018 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1973. ĐKHKTT: Tổ 6 phường H, qu n D, thành phố Hải Phòng. Hiện trú tại: H, qu n Đ, thành phố Hải Phòng. Có mặt. Bị đơn: Ông Bùi Văn V, sinh năm 1969. ĐKHKTT và trú tại: Tổ 6 phường H, qu n D, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 11/12/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Vân A trình bày: Bà và ông Bùi Văn V xây dựng gia đình từ năm 1990, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, song do không hiểu biết pháp lu t nên không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới hai bên chung sống hòa thu n được khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và có nhiều bất đồng về quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, ông V còn có hành vi bạo lực gia đình với bà. Mặc dù đã cố

giải quyết song mâu thuẫn càng trầm trọng. Từ năm 2012, hai bên đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay bà thấy tình cảm với ông V không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp lu t. Về con chung: Bà và ông V có 02 con chung là Bùi Hoàng L, sinh năm 1990 và Bùi Thị C, sinh năm 1996; cả hai con đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Bà Vân A không yêu cầu Tòa án giải quyết. T i Biên bản ghi lời khai 12/01/2018, bị đơn ông V trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nh n về thời gian kết hôn cũng như quá trình chung sống sau đó phát sinh mâu thuẫn như bà Vân A trình bày là đúng. Nay bà Vân A làm xin ly hôn, do vợ chồng chưa đăng ký kết hôn nên ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp lu t. Về nuôi con chung: Ông xác nh n vợ chồng có hai con chung như bà Vân A trình bày, các con đã trưởng thành nên không phải giải quyết. Về tài sản chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết. Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành điều tra xác minh, thu th p chứng cứ về việc đăng ký kết hôn giữa bà Vân A và ông V; thông báo về phiên họp tiếp c n chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên ông V đều vắng mặt. Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông V đã được tống đạt hợp lệ, ngày 29/01/2018, ông V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, bà Vân A đề nghị Tòa án giải quyết không công nh n quan hệ vợ chồng giữa bà và ông V. Về con chung và tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp lu t tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX, thư ký tòa án; việc chấp hành pháp lu t của người tham gia tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị tòa án xử không công nh n bà Nguyễn Thị Vân A và ông Bùi Văn V là vợ chồng. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nh n định: [1] Về pháp lu t tố tụng: Bà Nguyễn Thị Vân A và ông Bùi Văn V đều đăng ký hộ khẩu và cư trú trên địa bàn qu n D, thành phố Hải Phòng. Bà Vân A làm đơn yêu cầu không công nh n quan hệ vợ chồng với ông V - đây là quan hệ pháp lu t tranh chấp về hôn nhân và gia đình do đó Tòa án nhân dân qu n D thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ lu t Tố tụng dân sự. Ông Bùi Văn V đã được Tòa án nhân dân qu n D tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ lu t Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Bùi Văn V.

[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Vân A và ông Bùi Văn V xây dựng gia đình với nhau từ năm 1990, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục t p quán nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tòa án nhân dân qu n D thu th p chứng cứ về việc đăng ký kết hôn giữa bà Vân A và ông V tại UBND phường H và tại Phòng tư pháp qu n D, đều thể hiện trong sổ lưu đăng ký kết hôn từ năm 1989 đến nay không có trường hợp đăng ký kết hôn của bà Vân A và ông V. Như v y có cơ sở khẳng định: Bà Nguyễn Thị Vân A và ông Bùi Văn V chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp lu t Hôn nhân và gia đình. Theo hướng dẫn tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Lu t hôn nhân và gia đình: "... 4. Trường hợp na , nữ chung sống với nhau như vợ chồng à không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi ph điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, ẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định t i Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình" . Do đó tại phiên tòa hôm nay bà Vân A yêu cầu Tòa án không công nh n bà và ông V là vợ chồng là có căn cứ, cần chấp nh n yêu cầu của bà Vân A. [3] Về con chung: Bà Vân A và ông V có 02 con chung là Bùi Hoàng L, sinh năm 1990 và Bùi Thị C, sinh năm 1996; cả hai con đã trưởng thành đủ 18 tuổi, không ai có yêu cầu về việc nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. [4] Về tài sản chung: Bà Vân A và ông V không yêu cầu chia nên không xem xét giải quyết. [5] Về án phí: Bà Vân A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Về quyền kháng cáo: Bà Vân A và ông V có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp lu t. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ lu t Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15 Lu t Hôn nhân và gia đình; Lu t phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử: 1. Tuyên bố không công nh n quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Vân A và ông Bùi Văn V.

2. Về án phí: Bà Vân A phải nộp 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự qu n D theo biên lai thu tiền số 14058 ngày 14/12/2017. 3. Bà Nguyễn Thị Vân A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Bùi Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ