vanban.org

Bản án 05/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Buộc ông Trần Quốc T phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần N tính đến ngày14/10/2017 là 69.004.000 đồng (Sáu mươi chín triệu lẻ bốn ngàn đồng). Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu phần lãi phát sinh tính từ ngày 15/10/2017 của số tiền nợ gốc chưa thanh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng - Trần Quốc T tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/DS-ST;
Ngày: 27/02/2018;
Về việc: Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản ”;

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG-THÁP CHÀM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Anh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Trần Thanh Minh.

2/. Ông Huỳnh Phương Nam.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc- cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.

Ngày 27 tháng 02 năm 2018 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 202/2017/TLST- DS, ngày 24 tháng 10 năm 2017 về việc tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST – DS, ngày 12 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2018/QĐST-DS, ngày 29/01/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T – chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Địa chỉ: 201 – 203 đường C, phường 4, Quận 3, TP. H.

Người đại diện theo ủy quyền:

1. Ông Đinh Hoàng Th - chức vụ: Giám đốc ngân hàng TMCP N – Chi nhánh Ninh Thuận.

2. Ông Đạo Anh T – Trưởng phòng kinh doanh Chi nhánh Ninh Thuận (Các văn bản ủy quyền số: 74A, ngày 23/3/2017, số 32 ngày 08/5/2017 và 33/2017/UQ-NHNA -06 ngày 08/5/2017)

Địa chỉ: Số 594-596 đường Thống Nh, phường Đ, Thành phố Ph, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt).

* Bị đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm: 1983

Địa chỉ: Khu phố 4, phường T, thành phố Ph, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 16/10/2017, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N - ông Đạo Anh T trình bày:

Ngày 04/8/2015 ông Trần Quốc T có lập hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng thương mại cổ phần N - chi nhánh Ninh Thuận với số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng chẵn) theo Hợp đồng tín dụng số: 0930/2015/414/HĐTD, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày 04/8/2015, thời điểm trả hết nợ vào ngày 04/8/2020, kỳ hạn trả nợ hàng tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9,6%/năm, mục đích vay là tiêu dùng. Đây là khoản vay tín chấp được Ngân hàng thương mại cổ phần N – Chi nhánh Ninh Thuận liên kết với Trung tâm kh tỉnh Ninh Thuận.

Từ khi vay cho đến tháng 01/2017 ông Trần Quốc T chưa thanh toán nợ đầy đủ cho Ngân hàng, chỉ trả số tiền gốc 17.342.000 đồng, số tiền lãi 8.463.924 đồng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Trần Quốc T phải trả tổng số nợ tính đến ngày 14/10/2017 là 69.004. 000 đồng (trong đó: Nợ gốc là 61.324.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 7.680.000 đồng). Yêu cầu ông Trần Quốc T phải tiếp tục thanh toán phần lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho kể từ ngày 15/10/2017 cho đến khi thi hành án xong.

* Bị đơn: Ông Trần Quốc T dù đã được tống đạt hợp lệ giấy báo để đến Tòa án TP. Phan Rang – Tháp Chàm giải quyết vụ kiện, nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể:

- Ngày 09/11/2017 Toà án nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm đã niêm yết công khai thông báo thụ lý vụ án số: 202, ngày 24/10/2017 cho ông Trần Quốc T. Hết thời hạn niêm yết ông T không đến tòa, không trả lời bằng văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng cổ phần N và không nộp các tài liệu, chứng cứ kèm theo.

- Ngày 29/11/2017 Toà án đã niêm yết thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải số: 62/TB-TA ngày 29/11/2017 cho ông T. Ông Trần Quốc T không đến tham gia phiên hoà giải theo thông báo.

- Ngày 25/12/2017 Toà án đã niêm yết thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải số: 75/TB-TA ngày 21/12/2017 cho ông T. Ông Trần Quốc T không đến tham gia phiên hoà giải theo thông báo.

- Ngày 12/01/2018 Tòa án đã niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/QĐXXST- DS, ngày 12/01/2018 và Biên bản kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, ngày 10/01/2018 cho ông Trần Quốc T. Tại phiên tòa ông T vắng mặt không có lý do.

- Ngày 02/02/2018 Toà án đã niêm yết công khai Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/QĐST- DS, ngày 29/01/2018 cho ông Trần Quốc T. Tại phiên tòa ngày hôm nay ông T vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Tại phiên tòa, Ngân hàng thương mại cổ N yêu cầu ông Trần Quốc T phải có trách nhiệm thanh toán tổng số nợ tính đến ngày 14/10/2017 là 69.004. 000 đồng (trong đó: Nợ gốc là 61.324.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 7.680.000 đồng). Yêu cầu ông Trần Quốc T phải tiếp tục thanh toán phần lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng kể từ ngày 15/10/2017 cho đến khi thi hành án xong. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án dân sự là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Trần Quốc T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Quốc T là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, nhận thấy: Ngày 04/8/2015 ông Trần Quốc T có lập hợp đồng tín dụng vay vốn Ngân hàng TMCP N - chi nhánh Ninh Thuận với số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng chẵn) theo Hợp đồng tín dụng số: 0930/2015/414/HĐTD, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày vay, kỳ hạn trả nợ hàng tháng, lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9,6%/năm, mục đích vay là tiêu dùng, tại hợp đồng tín dụng có chữ ký chữ viết họ và tên của người vay và đại diện Ngân hàng; Đây là khoản vay tín chấp được Ngân hàng thương mại cổ phần N – Chi nhánh Ninh Thuận liên kết với Trung tâm kh tỉnh Ninh Thuận ký kết với Ngân hàng. Xét thấy đây là sự thỏa thuận và tự nguyện giữa hai bên trong các hợp đồng là đúng với quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án TP. Phan Rang – Tháp Chàm đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Trần Quốc T theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Trần Quốc T vẫn không có ý kiến gì cũng như không đến Tòa án làm việc. Điều đó thể hiện ông Trần Quốc T từ chối quyền và nghĩa vụ của mình và chứng tỏ rằng việc Ngân hàng khởi kiện đòi nợ theo hợp đồng tín dụng là có thật; Hơn nữa xét thấy các chứng từ do Ngân hàng TMCP N cung cấp thể hiện như: Hợp đồng tín dụng số: 0930/2015/414/HĐTD, ngày 04/8/2015, Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ của ông Trần Quốc T ngày 24/7/2015, Giấy nhận nợ, ngày 04/8/2015 đều có chữ ký, chữ viết của ông Trần Quốc T. Vì vậy xác định ông Trần Quốc T có vay Ngân hàng TMCP N như trình bày của ngân hàng và tính đến ngày 14/10/2017 là 69.004. 000 đồng (trong đó: Nợ gốc là 61.324.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là 7.680.000 đồng). Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N.

Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần N yêu cầu ông Trần Quốc T phải tiếp tục chịu phần lãi phát sinh từ ngày 15/10/2017 theo hợp đồng tín dụng của số tiền gốc cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí:

Ông Trần Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 3 điều 26, Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Buộc ông Trần Quốc T phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền còn nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần N tính đến ngày14/10/2017 là 69.004.000 đồng (Sáu mươi chín triệu lẻ bốn ngàn đồng).

Bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu phần lãi phát sinh tính từ ngày 15/10/2017 của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành án xong.

Về án phí:

Ông Trần Quốc T phải chịu 3.450.200 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn hai trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần N 1.990.000 đồng tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu số 0014357, ngày 24/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hợp lệ bản án.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 06, 07 và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ