- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị C: Buộc vợ chồng anh Vi Trương Anh T, chị Nguyễn Thị T phải trả cho chị Bùi Thị C số tiền là 72.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:05/2018/DS-ST Ngày: 10/5/2018 V/v:“Tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hùng Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Tiếng Thơ 2/ Ông Hồ Anh Đổng
- Thư ký phiên tòa:Ông Nghiêm Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, Lâm Đồng.
Ngày 10/5/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đạ Tẻh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2018/TLST-DS ngày 04/01/2018 về việc “Tranh chấp vềhợp đồng dân sự mua bántài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/QĐST-DS ngày 27/4/2018giữa: * Nguyên đơn:Chị Bùi Thị C - Sinh năm: 1974. Địa chỉ: Tổ dân phố A – TT. Đạ Tẻh – huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng. “Có mặt” * Bị đơn: Vợ chồng anh Vi Trương Anh T (tên gọi khác Vi Chương Anh T) – Sinh năm:1984, chị Nguyễn Thị T – Sinh năm 1984. Cùng tại địa chỉ: Tổ dân phố C – TT. Đạ Tẻh – huyện Đạ Tẻh – Lâm Đồng. “Có mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/01/2018, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị C trình bày:
Giữa chị C với vợ chồng anh Vi Trương Anh T, chị Nguyễn Thị T có giao kết mua bán tài sản với nhau, cụ thể: Trước đây vợchồng anh T, chị Tcó mua cám chăn nuôi gia cầm với chị nhiều lần nhưng chưa trả hết tiền. Đến ngày 04/12/2015 thì hai bên chốt công nợ, theo đó vợ chồng anh T, chịT còn nợ tiền mua cám chăn nuôi gia cầm của chị C với số tiền là 72.100.000 đồng, hai bên thỏa thuận thời hạn trả tiền là 02 tháng.Đến hạn trả nợ, chị C đã đòi nhiều lần nhưng vợ chồng anh T, chị T vẫn không trả.Vì vậy, chị C khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh T, chị T phải trả số tiền mua cám gia cầm còn nợ là 72.100.000 đồng và không yêu cầu trả lãi suất.
Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là vợ chồng anh Vi Trương Anh T, chị Nguyễn Thị T trình bày:
Trước đây vợ chồng anh chị có mua cám chăn nuôi gia cầm với chị C nhiều lần nhưng chưa trả hết tiền. Đến ngày 04/12/2015 hai bên chốt công nợ, theo đó vợ chồng anh chị còn nợ chị C với số tiền là 72.100.000 đồng, hai bên thỏa thuận thời hạn trả tiền là 02 thángnhư chị C trình bày là đúng và đến nay vợ chồng anh chị đã trả thêm cho chị C số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), khi trả tiền có viết giấy trả nhưng giấy trả tiền đó đã bị thất lạc. Do vậy, vợ chồng anh T, chị Tkhông có chứng cứ để chứng minh là đã trảsố tiền 3.000.000 đồng trên,vợ chồng anh T, chị Tđề nghị chị C trừ cho số tiền đã trả là 3.000.000 đồng.Vì vậy, vợ chồng anh T, chị Tchỉđồng ý trả cho chị C số tiền là 69.100.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn chị C trình bày: Vợ chồng anh T, chị T chưa trả cho chị số tiền 3.000.000 đồng như vợ chồng anh T, chị T trình bày. Vì vậy, chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình là yêu cầu vợ chồng anh T, chị Tphải trả số tiền mua cám gia cầm còn nợ là 72.100.000 (Bảy mươi hai triệu một trăm ngàn đồng).
Bị đơn vợ chồng anh T, chị T trình bày:Vợ chồng anh chị còn nợ chị C số tiềnmua cám gia cầm là 72.100.000 đồng như chị C trình bày là đúng, nhưng đến nay vợ chồng anh chị đã trả thêm cho chị Cđược số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), khi trả tiền có viết giấy trả nhưng giấy trả tiền đó đã bị thất lạc, vợ chồng anh chị không có chứng cứ để chứng minh là đã trả số tiền 3.000.000 đồng trên,nhưngvợ chồng anh T, chị T tiếp tụcđề nghị chị C trừ cho số tiền đã trả là 3.000.000 đồng.Vì vậy,vợ chồng anh T, chị Tđồng ý trả cho chị C số tiền là 69.100.000 đồng.
NHẬNĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp trong vụ án: Đây là “Tranh chấp vềhợp đồng dân sự mua bán tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
2. Về nội dung vụ án:
Về hợp đồng mua bán tài sản (Mua cám thức ăn chăn nuôi gia cầm) được giao kết giữa chị C với vợ chồng anh T, chị Tnhư “Giấy cam kết trả nợ ngày 4/12/2015 có chữ ký xác nhận của vợ chồng anh Vi Trương Anh T, chị Nguyễn Thị T” là có thật. Xét yêu cầu của chị C yêu cầu vợ chồng anh T, chị T phải trả số tiền mua cám gia cầm còn nợ 72.100.000 (Bảy mươi hai triệu một trăm ngàn đồng) là hoàn toàn có cơ sở. Do đó, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (chị C) và buộc bị đơn (vợ chồng anh T, chị T) phải trả toàn bộ số tiền còn nợ là 72.100.000 (Bảy mươi hai triệu một trăm ngàn đồng)như yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp. Còn ý kiến của vợ chồng anh T, chị T cho rằng, đã trả cho chị C số tiền 3.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ để chứng minh. Xét thấy, chị C không đồng ý trừ chovợ chồng anh T, chị T số tiền 3.000.000 đồng như vợ chồng anh T Anh, chị T trình bàyvà việc vợ chồng anh T, chị Tchỉ đồng ý trả số tiền 69.100.000 đồng cho chị C là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, cần buộc vợ chồng anh T, chị T phải trả cho chị C số tiền là 72.100.000 đồng (Bảy mươi hai triệu một trăm ngàn đồng).
Về án phí: Xét thấy vợ chồng anh T, chị T có đơn xin miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm và vợ chồng anh T, chị Tlà hộ nghèo. Vì vậy, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho vợ chồng anh T, chị Ttheo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, 144, 147và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 430, 440và Điều 357của Bộ luậtdân sự năm 2015 của Bộ luật dân sự; Áp dụngđiểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị C: Buộc vợ chồng anh Vi Trương Anh T, chị Nguyễn Thị T phải trả cho chị Bùi Thị C số tiền là 72.100.000 đồng (Bảy mươi hai triệu một trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật sân sự.
2/ Về án phí:
Vợ chồng anh T, chị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Chị Bùi Thị C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.802.500đồngtheo biên lai thu số AA/2015/0002082 ngày 04/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
Trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơncó quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đạ Tẻh; - Các đương sự; - Thi hành án; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Dƣơng Văn Hùng |