vanban.org

Bản án 05/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho chị Hoàng Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn C. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn C và Hoàng Thị D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2017/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 7 năm 2017
(V/v kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp,
nuôi con)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Đại.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đinh Thị Út.

2. Bà Phạm Thị Dung.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Quốc Vương - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Trịnh – Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Ngày 12 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2017/TLST - HNGĐ, ngày 22 tháng 02 năm 2017 về việc: Kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2017/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 5 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị D – sinh năm 1989;

Trú tại: Bản Mai 2, xã Minh Tân, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C – sinh năm 1988;

Trú tại: Bản 7 AB, xã minh Tân, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tự khi và lời trình bày của chị Hoàng Thị D có nội dung như sau:

Chị D và anh Nguyễn Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 11 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Kim Sơn, anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống , không có sự thống nhất bàn bạc trong làm ăn và nuôi dạy con cái, ngoài ra anh C thường xuyên uống rượu say, đánh đập chửi bới chị D dẫn đến vợ chồng luôn bất hòa. Sự việc đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng không khắc phục được chị D và anh C đã ly thân từ tháng 7 năm 2016 đến nay anh chị không quan tâm đến nhau nữa. Chị D xác định hạnh phúc vợ chồng không đạt được nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn anh C.

Về con chung trong quá trình chung sống anh chị sinh được 04 con chung:

1. Cháu Nguyễn Thị D - Sinh ngày 02 tháng 4 năm 2009;

2. Cháu Nguyễn Thị D - Sinh ngày 29 tháng 11 năm 2011;

3. Nguyễn Văn Khải - Sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015;

4. Cháu Nguyễn Trung K - Sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015;

Sau khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Thị D, Nguyễn Trung K, đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Thị D và cháu Nguyễn Văn Khải cho anh C nuôi dưỡng không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung chị D và anh C không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Văn C đến trụ sở Tòa án để tự khai, kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử nhưng anh C không có mặt theo giấy triệu tập nên tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và tiến hành các hoạt động theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên phát biểu quan điểm, trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng quy định

2

của Điều 48, khoản 2 Điều 220, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của 63, thư ký tuân thủ đúng quy định của Điều 51, nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của điều 70, 71, 234, bị đơn không tuân thủ quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự vắng mặt các phiên họp kiểm tra chứng chứng và hòa giải, các phiên tòa.

Về hướng giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Chị Hoàng Thị D anh Nguyễn Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 11 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Kim Sơn, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, sau khi đăng ký kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị không hợp nhau về tính nết, về cách nuôi dạy con cái, mặt khác anh C thường uống rượu sau đánh chửi chị D. Xét thấy mục đích của hôn nhân không đạt được chị D yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung.

Qua quá trình thu thập chứng cứ Tòa án đã xác định được chị D và anh C thường xuyên bất hòa. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh C thường xuyên uống rượu say đánh chửi chị D, chị D đã bỏ về xã Minh Tân sinh sống cùng mẹ đẻ từ tháng 6 năm 2016. Xác định mục đích hôn nhân giữa chị D và anh C không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là phù hợp.

Về con chung:

Trong bản tự khai của cháu Nguyễn Thị D có nội dung sau khi chị D và anh C ly hôn cháu D có nguyện vọng được sinh sống cùng anh C.

Qua quá trình thu thập chứng cứ, Tòa án đã xác định được anh C làm nghề nông nhiệp thu nhập 1.600.000 đồng/01 tháng; chị D lao động tự do thu nhập 3.000.000 đồng /01 tháng.

3

Các đương sự cùng có thu nhập đồng thời cháu D đã trên 7 tuổi có nguyện vọng được sống cùng anh C sau khi bố mẹ ly hôn. Cần giao các cháu Nguyễn Thị D, Nguyễn Trung K cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Giao các cháu Nguyễn Thị D và cháu Nguyễn Văn Khải cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Nghị Quyết số 236 /2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho chị Hoàng Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung:

Giao các cháu Nguyễn Thị D, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2011, Nguyễn Trung K, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015 cho chị Hoàng Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Giao các cháu Nguyễn Thị D, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2009 và cháu Nguyễn Văn Khải, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Hoàng Thị D và anh Nguyễn Văn C có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Chị Hoàng Thị D phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai số 0001160 ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Chị D đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Chị Hoàng Thị D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

4

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ