vanban.org

Bản án 04a/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 23/08/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân S. Xác nhận anh Nguyễn Xuân S không phải cha đẻ của cháu Trần Vân T do chị Nguyễn Thị Phương T sinh ra ngày 28/01/2022 tại Đài Loan.

Về án phí: Anh Nguyễn Xuân S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001013 ngày 07/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình. Anh Nguyễn Xuân S đã nộp xong án phí. Về quyền kháng cáo: Anh N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Xuân S từ chối nhận con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân S. Xác nhận anh Nguyễn Xuân S không phải cha đẻ của cháu Trần Vân T do chị Nguyễn Thị Phương T sinh ra ngày 28/01/2022 tại Đài Loan.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04a/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23 -8 -2022
V/v: Từ chối nhận con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Bá Thức.

- Ông Nguyễn Quang Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2022/TLST – HNGĐ ngày 07/ 6/2022 về việc từ chối nhận con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/8/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân S, sinh năm 1993.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố A, thị trấn N, huyện V, tỉnh YB. Có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Phƣơng T, sinh năm 1992.

Nơi ĐKHKTT: Xóm S, xã LS, huyện LS, tỉnh H. Hiện đang lao động tại Đài Loan, Trung Quốc. Có đơn xin xử vắng mặt.

Người được bị đơn ủy quyền giao nhận các văn bản với Tòa án: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn VM, xã HVT, huyện CM, TP HN. Có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Xuân S trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Phương T kết hôn vào ngày 15/10/2014, có 01 con chung Nguyễn Tuấn Đ, sinh ngày 30/01/2015. Tháng 9/2020 chị T đi lao động tại Đài Loan. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ngày 25/3/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã xử cho ly hôn. Sau khi ly hôn chị T có thông tin cho anh S biết về việc cuối tháng 1/2022 chị T có sinh 01 con gái tại Đài Loan. Anh S khẳng định cháu bé do chị T sinh tại Đài Loan không phải con anh S vì từ tháng 9/2020 đến nay vợ chồng không gặp nhau, chị T chưa về nước lần nào, bản thân anh S cũng không sang Đài Loan nên vợ chồng không phát sinh quan hệ vợ chồng. Do vậy giữa anh S và cháu bé do chị T sinh ra tại Đài Loan không có quan hệ huyết thống cha con. Anh S từ chối nhận cháu là con.

Do chị T đang ở Đài Loan nên anh đề nghị không tiến hành hòa giải và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Bị đơn Nguyễn Thị Phương T có văn bản trình bày ý kiến như sau:

Chị và anh S kết hôn năm 2014 và có con chung là Nguyễn Tuấn Đ, sinh ngày 30/01/2015, do vợ chồng có mâu thuẫn nên từ tháng 9/2020 chị đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ đó đến nay chị chưa về nước, tháng 3/2022 vợ chồng đã ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình theo yêu cầu của anh S. Trong thời gian ở Đài Loan chị T có sinh con gái vào ngày 28/01/2022, đặt tên con là Trần Vân T. Chị T khẳng định cháu Trần Vân T là con riêng của chị, không phải con anh S vì từ khi chị sang Đài Loan đến nay chị chưa về Việt Nam và anh S cũng không sang Đài Loan. Khi làm thủ tục ly hôn với anh S chị không khai cháu Trần Vân T vì cháu là con riêng của chị. Nay anh S có đơn khởi kiện từ chối nhận cháu là con, chị T nhất trí và đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu của anh S.

Việc giao và nhận các văn bản tố tụng với Tòa án chị T ủy quyền cho chị gái là Nguyễn Thị T, sinh năm 1989. Trú tại: Thôn VM, xã HVT, huyện CM, TP HN. Đồng thời chị T có đơn đề nghị giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt chị.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, thấy rằng: Việc thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp. Quá trình điều tra xác minh thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy: Trước khi ly hôn với anh S (25/3/2022) chị T đã sinh cháu Trần Vân T ngày 28/01/2022. Tuy nhiên trong thời gian từ tháng 9/2020 đến nay chị T chưa về Việt Nam, anh S cũng chưa xuất cảnh khỏi Việt Nam. Nay anh S và chị T đều xác nhận cháu Trần Vân T là con riêng của chị T, không phải con đẻ anh S. Căn cứ khoản 2 Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 BLDS, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S. Xác nhận anh S không phải là cha đẻ của cháu Trần Vân T. Anh S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn anh Nguyễn Xuân S có đơn đề nghị Tòa án giải quyết về việc từ chối nhận con với bị đơn chị Nguyễn Thị Phương T có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hòa Bình, hiện đang lao động tại Đài Loan, Trung Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39, Điều 464 BLTTDS, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Anh Nguyễn Xuân S và chị Nguyễn Thị Phương T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về nội dung:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh S và chị T kết hôn ngày 15/10/2014, ngày 6/9/2020 chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ngày 25/3/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã xét xử cho anh S được ly hôn chị T. Tuy nhiên sau khi ly hôn anh S mới biết trong thời gian ngày 28/01/2022 chị T đã sinh con gái Trần Vân T tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình, cháu Trần Vân T được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của anh S và chị T. Anh S cho rằng từ khi đi nước ngoài đến nay chị T chưa về nước, vợ chồng không gặp nhau nên cháu Trần Vân T không có quan hệ huyết thống với anh nên anh từ chối nhận cháu là con.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình có Công văn xác minh về thông tin xuất, nhập cảnh đối với chị Nguyễn Thị Phương T và anh Nguyễn Xuân S. Tại công văn số 725/CAT-PA08 ngày 28/6/2022 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Hòa Bình đã cung cấp thông tin: Chị Nguyễn Thị Phương T xuất cảnh ngày 06/9/2020 tại sân bay Quốc tế Nội Bài nhưng chưa có thông tin xuất nhập cảnh trở lại; đối với anh Nguyễn Xuân S không có thông tin xuất nhập cảnh. Phía chị T cũng thừa nhận cháu Trần Vân T là con riêng của chị, không phải con của anh S.

Như vậy, lời khai của anh S phù hợp với lời khai của chị T và phù hợp với kết quả xác minh từ phòng PA 08 Công an tỉnh Hòa Bình. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S cũng như ý kiến của chị T về việc cháu Trần Vân T sinh ngày 28/01/2022 do chị T sinh ra tại Đài Loan không phải con đẻ của anh S.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28; 37; 39; 147; khoản 1 Điều 228 ; 238; 464; 469 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 88; 89; 101; 102 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân S. Xác nhận anh Nguyễn Xuân S không phải cha đẻ của cháu Trần Vân T do chị Nguyễn Thị Phương T sinh ra ngày 28/01/2022 tại Đài Loan.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001013 ngày 07/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình. Anh Nguyễn Xuân S đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Xuân S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Chị Nguyễn Thị Phương T được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ