vanban.org

Bản án 04 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Lò Thị H được ly hôn với anh Lò Văn T

VÒ con chung: Chị H được quyền trùc tiÕp ch¨m sãc, nu«i d ìng con chung cháu Lò Chí T sinh ngày 13/5/2018 cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động. Về cấp d ìng nuôi con chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị H- T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Lò Thị H được ly hôn với anh Lò Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
Toµ ¸n nh©n d©n
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TØnh §iÖn Biªn
B¶n ¸n sè: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngµy 22/ 01/ 2024
V/v: "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi
ly hôn"
- ThÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Bạc Thị Liên
- C¸c héi thÈm nh©n d©n: 1. Bà Lò Thị Hiền
Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ
tØnh §iÖn Biªn mở phiên tòa xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n hôn nhân và gia
đình thụ lý sè: 11/2023/TLST - HNG§ ngµy 03 th¸ng 11 n¨m 2023 về việc "Ly
hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo quyÕt ®Þnh ® a vô ¸n ra xÐt xö sè:
03/2023/QĐXX-ST ngày 20/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02 ngày
04/01/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyªn ®¬n: Chị Lò Thị H - Sinh n¨m 1998 (cã mÆt).
Tró t¹i: Bản H, xã N, huyện T, tỉnh Đ
2. BÞ ®¬n: Anh Lò Văn T - Sinh n¨m 1993 (v¾ng mÆt).
Tró t¹i: Bản P, xã N, thành phố Đ, tØnh §iÖn Biªn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 29/10/2023 và các bản tự khai tại Tòa án nhân dân thành phố Đ, chị Lò Thị H (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và anh Lò Văn T tổ chức đám cưới theo phong tục và có đi ®¨ng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Đ vào ngày 10/7/2018. Chóng tôi kết hôn lµ tù nguyÖn, kh«ng bÞ ai Ðp buéc. Kết hôn và chung sống cùng nhà chồng tại bản P, xã N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên được một thời gian ngắn đến tháng 5/2018 sau khi tôi sinh con nhỏ thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xảy ra tranh cãi, anh T không quan tâm đến vợ con, hai vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng nên anh T không tự lập sống lệ thuộc vào bố mẹ, không chia sẻ công việc với tôi kể cả kinh tế. Một thời gian sau bố mẹ đẻ tôi đón tôi cùng con trai về bản H xã N, huyện T sinh sống. Anh T có về thăm 2 mẹ con vài lần xong lại đi làm thuê xa nhà. Đến nay anh T và tôi đã ly thân được 5 năm không quay lại thăm nom gì tôi. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên tôi làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đ giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trường.

2. Về con chung: Tôi và anh T có 01 con chung cháu Lò Chí T, sinh ngày13/5/2018. Quan điểm chị H xin được nuôi và chăm sóc cháu T cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động.

- Về phần cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa giải quyết

3. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ngày 03/11/2023, sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân thành phố Đ đã thông báo nội dung đơn xin ly hôn với các yêu cầu cụ thể của chị H cho anh T biết. Giao thông báo thụ lý vụ án hợp lệ cho anh T. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận thông báo thụ lý vụ án, anh T không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Tòa án. Tòa đã triệu tập nhiều lần và tiến hành giao thông báo phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải vụ án hợp lệ cho anh T. Nhưng anh T vẫn không đến Tòa. Do vậy Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự và luật hôn nhân gia đình đối với các đương sự. Ngày 08/12/2023 Tòa án nhân dân thành phố Đ đã ra quyết định xét xử và đã tống đạt hợp lệ cho anh T nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên Tòa và tiến hành tống đạt quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh T đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do chính đáng căn cứ quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Lò Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu Tòa giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản như nội dung trong đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã trình bày.

- Anh T đã được triệu tập hợp lệ vẫn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n, qua thÈm tra t¹i phiªn toµ. Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

[1]. Về Tố tụng. Bị đơn có địa chỉ bản P, xã N, thành phố Đ, tỉnh Đ do vậy vụ án xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Đ đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 177 BLTTDS, việc anh Trường không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70; 72/BLTTDS là do anh Trường đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Cho nên căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227/BLTTDS năm 2015. HĐXX vẫn tiến hành xét xử.

.VÒ quan hệ hôn nhân: Anh Lò Văn T và chị Lò Thị H tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố Đ, tỉnh Đ. Do vậy hôn nhân giữa hai người là hợp pháp.

Theo lời khai của chị H và đơn xác nhận tình trạng hôn nhân do UBND xã N, huyện T xác nhận cho thấy: Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh T và chị H tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xảy ra tranh cãi, anh T không quan tâm đến vợ con, hai vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng nên anh T không tự lập sống lệ thuộc vào bố mẹ, không chia sẻ công việc với chị H kể cả kinh tế. Một thời gian sau bố mẹ đẻ chị H đến đón chị và con trai về bản H xã N, huyện T sinh sống. Anh T có về thăm 2 mẹ con vài lần xong lại đi làm thuê xa nhà. Đến nay hai anh chị đã ly thân được 5 năm không quay lại thăm nom gì nhau. Bản thân chị H xét thấy tình cảm không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Héi ®ång xÐt xö xÐt thÊy, ®Ó ®¶m b¶o quyÒn lîi cña chị Hươi vµ ®Ó gi¶i phãng cho chị thoát khái t×nh tr¹ng hiÖn t¹i khi mµ cuộc h«n nh©n kh«ng thể đem lại hạnh phúc cho chị, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vì mục đích của hôn nhân không đạt được. Hai anh chị không dành thời gian chung sống chăm sóc giúp đỡ nhau, theo Điều 19 luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nhưng hai anh chị không muốn thực hiện quyền và nghĩa vụ qui định tại điều luật này do hai anh chị đã sống ly thân hơn 5 năm nay, như vậy không thể đảm bảo hạnh phúc gia đình cho chị H cùng con. Áp dông Điều 51 và Điều 56 LuËt h«n nh©n gia ®×nh n¨m 2014 chấp nhận yêu cầu của chị H xử cho ly hôn giữa chị Lò Thị H và anh Lò Văn T

. Về con chung: Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là: Lò Chí T sinh ngày 13/5/2018.

Xét thấy hiện tại chị H mới là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cháu hiện còn nhỏ cần mẹ chăm sóc nuôi dưỡng. Theo xác nhận của UBND xã N, hai mẹ con chị H đã về sinh sống tại nhà mẹ đẻ. Chị H còn khai anh T đã bỏ mặc 2 mẹ con không quan tâm từ khi bé sinh ra. Như vậy không đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ. HĐXX căn cứ Điều 69 và Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận nguyện vọng của chị H Giao con cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh T có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

.Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về diện tích ruộng, nương : Không có.

. Về án phí: Chị H là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn của xã thuộc diện miễn án phí và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 chị H được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 19, Điều 69, Điều 81, 82, 83, 84 của LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh n¨m 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b, khoản 2 Điều 227 Điều 271; Điều 373 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyªn xö:

1. Về hôn nhân: Chị Lò Thị H được ly hôn với anh Lò Văn T

2. VÒ con chung: Chị H được quyền trùc tiÕp ch¨m sãc, nu«i d ìng con chung cháu Lò Chí T sinh ngày 13/5/2018 cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động.

Về cấp d ìng nuôi con chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ng êi kh«ng trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn ®i l¹i th¨m nom, ch¨m sãc gi¸o dôc con chung kh«ng ai ® îc c¶n trë.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản: Tài sản riêng; tài sản chung; diện tích ruộng, nương, Nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.

4. Về án phí: C¨n cø Khoản 4 §iÒu 147/BLTTDS, điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án, chị Lò Thị H được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính, hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ