- Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm — án kinh doanh thương mại — "KDTMPT Công ty TNHH S - Tổng Công ty CP Bảo hiểm Ngân hàng Đ"
- Tòa quyết gì? Án phí phúc thẩm: Tổng Công ty cổ phần B phải chịu 2.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản n s : 04/2024/KDTM-PT Ngày: 05/4/2024 V/ v: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm ph n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
C c Thẩm ph n: Bà Trần Thị Nhài và bà Nguyễn Thị Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thuý Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Th i Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Nguyễn Minh Tâm, Kiểm s t viên.
Trong các ngày 03 và 05 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa n nhân dân tỉnh Th i Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý s 10/2023/KDTM-PT ngày 10/11/2023, về việc tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm hàng ho .
Do bản n Kinh doanh thương mại sơ thẩm s 09/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên có kh ng c o.
Theo quyết định đưa vụ n ra xét xử s 25/2024/QĐ-PT ngày 03/01/2024; giữa c c đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH S
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành ph T, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện theo pháp luật: Ông Dương Công L, chức vụ Gi m đ c; có mặt
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Khắc X; địa chỉ: S C Khu Đô thị V, phường P, quận H, TP .; có mặt.
Bị đơn: Tổng Công ty CP. Bảo hiểm Ngân hàng Đ
Địa chỉ: tầng A, Tòa nhà B, Cầu G, phường D, quận C, thành ph Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hoài A, chức vụ: Tổng gi m đ c
Đại diện theo uỷ quyền:
1. Luật sư Nguyễn Đức N; 2. Luật sư Vũ L1; Công ty L4; địa chỉ: S B N, phường Y, Quận C, Tp .; có mặt luật sư N, vắng luật sư L1.
3. Luật sư Vũ Văn C; địa chỉ: s C đường B, thành ph T, Thái Nguyên; vắng mặt.
4. Bà Vũ Thị Hồng N1, c n bộ Ban Q1; có mặt.
5. Ông Vũ Quang L2, cán bộ Ban gi m định bồi thường, Tổng công ty B; có mặt.
6. Bà Lê Xuân Q – Trưởng Phòng Ban Quản lý rủi ro, Tổng công ty B; có mặt.
7. Ông Nguyễn Văn K – Trưởng phòng Ban gi m định bồi thường, Tổng công ty B; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty cổ phần G (Vico); địa chỉ: P.1512, Tòa nhà N4A Lê Văn L3, Khu đô thị T, quận T, thành ph Hà Nội; đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T; chức vụ Trưởng phòng Giám định và ông Nguyễn Văn H, chức vụ: Trợ lý Gi m định viên; đều có mặt.
2. Công ty cổ phần G1; địa chỉ: BT5, s E đường L, phường M, quận H, TP .; đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T1 – Thẩm định viên; vắng mặt.
3. Ông Dương Công L – Chủ Doanh nghiệp tư nhân T2; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành ph T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Công ty TNHH S, đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngày 08/5/2019 Công ty TNHH S (gọi tắt là Công ty S) ký hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản s 22192186 với Công ty B (gọi tắt là B1) là đơn vị thành viên của Tổng Công ty cổ phần B (B1) để bảo hiểm cho các tài sản của Công ty S. Địa điểm được bảo hiểm tại tổ A (nay là tổ A), phường T, thành ph T, nơi Công ty S đặt trụ sở và là nơi trực tiếp kinh doanh sản xuất kính. Thời hạn bảo hiểm đến ngày 8/5/2020. Danh mục tài sản được bảo hiểm bao gồm: Nhà xưởng, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị và hàng hóa trong kho. Tổng giá trị hợp đồng bảo hiểm là 26.250.000.000đ, trong đó, bảo hiểm nhà xưởng, vật kiến trúc 2.670.000.000đ, bảo hiểm máy móc, thiết bị 3.580.000.000đ, bảo hiểm hàng hóa trong kho 20.000.000.000đ.
Đêm ngày 09/9/2019 đến s ng ngày 10/9/2019, mưa lớn kéo dài gây ngập lụt nhiều địa điểm tại thành ph T, trong đó có trụ sở Công ty S bị ngập cao khoảng 1,2m, toàn bộ nhà xưởng rộng khoảng 10.000m2 bị ngập nước. Trong nhà xưởng chứa toàn bộ kính các loại, máy móc các loại, máy thiết bị văn phòng bị ngập nước và cu n trôi nhiều tài liệu, sổ sách không khắc phục được.
Ngay sau đó, đại diện Công ty S đã báo cho Công ty B biết về sự c trên, đồng thời báo chính quyền địa phương, Công an sở tại.
Biên bản sự việc lập hồi 14h30 ngày 10/9/2019 có đại diện UBND phường T, đại diện Công an phường T, lãnh đạo Công ty S, c c bên cùng nhau x c định máy móc, hàng hóa bị ngập nước gồm: 33 loại máy móc sản xuất kính được liệt kê chi tiết từng loại, khoảng trên 1000 kiện kính chưa thành phẩm, 40 thùng phim PVB dán kính, 03 máy tính làm việc của kế toán.
Ngày 10/9/2019 Công ty B2 chỉ định Công ty cổ phần G (gọi tắt là B2) tiến hành gi m định. Việc chỉ định đơn vị gi m định thiệt hại tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 11 của Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản s 22192186 để tiến hành gi m định tổn thất.
Chiều ngày 10/9/2019, V đã có mặt tại hiện trường ghi nhận mức độ thiệt hại. Tại biên bản gi m định s 01 ngày 14/9/2019, Vico gi m định cụ thể thiệt hại như sau:
Thiết bị, máy móc: 8 mục máy móc bị thiệt hại. Tuy nhiên, sau đó Công ty S đã sử dụng công nhân của công ty L5, tẩy rửa, vệ sinh c c m y móc và thuê các đơn vị, c nhân trong nước và nước ngoài sửa chữa, thay thế một s phần bị hỏng không khắc phục được (việc sửa chữa, khắc phục được thực hiện theo yêu cầu của Công ty B2) với tổng s tiền khắc phục, thay thế sửa chữa là: 402.945.000đ. Toàn bộ s tiền này được thể hiện bằng 5 hóa đơn b n hàng do Công ty S nhập thiết bị để sửa chữa; 03 hóa đơn thuê người Trung Qu c sang Việt Nam sửa chữa; 01 bảng chấm công; 02 bảng thanh toán tiền lương cho nhân viên của Công ty S do khắc phục hậu quả. Toàn bộ chi phí theo hóa đơn đều có tài liệu kèm theo do Công ty S cung cấp.
Đối với kính các loại và màng PVB, tại Biên bản gi m định ngày 15/9/2019 do Vico tiến hành gi m định:
- Kính dán nguyên tấm bị ngập nước lẫn dầu từ 50-70cm là: 25.396,56m2
- Kính nguyên tấm ngập nước lẫn dầu từ 50-70cm là: 86.015,28m2.
Tổng hai loại kính này được x c định là: 111.411,84m2 nhưng trong biên bản gi m định ngày 15/9/2019 ghi là: 110.884,52m2
Màng PVB gồm 44 cuộn, trong đó có 32 cuộn bị ngấm nước, ngấm dầu, x c định bị hỏng 100%. Vico x c định cả 44 cuộn màng bị hỏng 100%
Kính thành phẩm ngập nước gồm: 21.475,421m2 do bị ngập nước lẫn dầu và 2.151,934m2 kính thành phẩm bị vỡ. Tổng: 23.627,355m2 (có bảng kê).
Để có cơ sở thanh lý tài sản bị thiệt hại, V và Công ty T3 lập bằng văn bản lần cu i cùng, cụ thể:
Theo biên bản làm việc s 06 ngày 24/8/2020 giữa Công ty S với V, Công ty B (BIC) x c định:
Kính nguyên khổ d n 2 lớp: Thiệt hại 16,459.037m2; Kính một lớp nguyên khổ: Thiệt hại 3,109.199m2; Tổng thiệt hại: 19,568.236m2
Theo biên bản làm việc s 07 ngày 25/8/2020 giữa Công ty S với V, các bên x c định thiệt hại của kính thành phẩm là 5.249,114m2. Toàn bộ tài sản bị thiệt hại nêu trên, Công ty S đã bán thanh lý được s tiền: 662.347.511 đồng.
Sau nhiều lần làm việc và nhiều lần Công ty S yêu cầu BIC phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty S toàn bộ giá trị thiệt hại xảy ra sau khi được trừ đi s tiền thanh lý, nhưng phía BIC không thực hiện việc bồi thường mà để cho VICO liên tục gửi c c văn bản yêu cầu Công ty S cung cấp hồ sơ không liên quan. Công ty B2 chỉ có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ x c định thiệt hại và giám định thiệt hại theo chỉ định của BIC chứ VICO không có quyền yêu cầu Công ty S cung cấp hồ sơ liên quan đến việc bồi thường. Tuy nhiên Công ty S vẫn cung cấp đầy đủ hồ sơ liên quan.
Ngày 29/01/2021, BIC có công văn s 11 tự x c định s tiền tổn thất thực tế do sự kiện ngập lụt ngày 10/9/2019 gây ra là: 6.898.933.064đ nhưng chỉ ước tính bồi thường s tiền 2.969.281.442đ, nếu Công ty S cung cấp đủ hồ sơ, Công ty S không chấp nhận.
Căn cứ hợp đồng đã ký, Công ty S p gi thị trường tại thời điểm và yêu cầu bồi thường theo đúng s liệu tại 02 biên bản s 06 ngày 24/8/2020 và biên bản s 07 ngày 25/8/2020 nêu trên. Công ty S đã nộp hóa đơn đầu vào của các hạng mục theo hai biên bản này.
Căn cứ kết quả thẩm định giá của Công ty G1, nguyên đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử x c định trách nhiệm bảo hiểm của bị đơn dựa trên nguyên tắc tính to n gi trị hàng ho tồn kho thực tế và gi trị hàng ho tổn thất, áp dụng bảo hiểm dưới giá trị là: Số tiền bồi thường = Giá trị tổn thất x Số tiền bảo hiểm/Giá trị bảo hiểm.
S tiền bảo hiểm của hạng mục hàng ho theo hợp đồng là 20.000.000.000 đồng, yêu cầu bị đơn bồi thường s tiền thiệt hại như sau:
* Giá trị hàng hoá tồn kho thực tế tại thời điểm tổn thất là:
- Kính nguyên tấm: 111.412,729 m2 = 13.157.734.817 đồng
- Kính thành phẩm: 23.629,613 m2 = 7.315.252.528 đồng
- Màng PVB 40.046 m2 = 1.588.013.000 đồng
- Tổng s : 22.061.000.345 đồng
* Khối lượng và giá trị tổn thất hàng hoá (theo chứng thư thẩm định giá):
- Kính nguyên tấm 2 lớp: 16.459,037 m2 = 3.156.859.000 đồng
- Kính nguyên tấm 1 lớp: 3.109,199 m2 = 322.925.000 đồng
- Kính thành phẩm: 5.249,114 m2 = 1.295.800.000 đồng
- Màng PVB: 30.046 m2 = 1.588.013.000 đồng
- Tổng s : 6.363.597.000 đồng.
Số tiền bồi thường hạng mục hàng hoá theo mức bảo hiểm dưới giá trị là: 6.363.597.000 x 20.000.000.000/22.061.000.345 = 5.769.091.973 đồng.
* Chi phí sửa chữa máy móc thiết bị:
- Vật tư, phụ tùng: 351.062.000 VNĐ (theo chứng thư thẩm định giá).
- Nhân công sửa chữa: 37.067.000 VNĐ (theo chứng thư thẩm định giá).
- Tổng chi phí sửa chữa máy móc thiết bị: 388.129.000 VNĐ
- Do máy móc chỉ được sửa chữa mà không phải thay thế máy mới nên chi phí sửa chữa không phải tính khấu hao.
* Chi phí phục hồi kính: 1.656.169.000 VNĐ (theo chứng thư thẩm định giá) tính theo mức bảo hiểm dưới giá trị là:
1.656.169.000 x 20.000.000.000/22.061.000.345 = 1.501.445.061 VNĐ
* Giá trị thanh lý thu hồi:
- Gi trị thanh lý thu hồi thực tế: 662.347.511, tính theo mức bảo hiểm dưới giá trị là: 662.347.511 x 20.000.000.000/22.061.000.345 = 600.469.154 đồng
Tổng s tiền yêu cầu bồi thường của các mục nêu trên trừ đi mức khấu trừ 20.000.000đ/vụ theo hợp đồng là:
5.769.091.973đ + 388.129.000đ + 1.501.445.061đ - 600.469.154đ - 20.000.000đ = 6.858.196.880đ.
Lãi chậm trả tính từ ngày 01/01/2020 đến 19/08/2023:
6.858.196.880 x 13,5% x 1.391 ngày/365 ngày = 3.528.401.373 đồng
Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bồi thường: 6.858.196.880 + 3.528.401.373 = 10.386.598.253 đồng.
Bị đơn Tổng Công ty Cổ phần B trình bày:
Việc ký kết hợp đồng bảo hiểm và sự kiện bảo hiểm đúng như nguyên đơn trình bày. Bị đơn x c định hợp đồng bảo hiểm được ký kết giữa c c bên là hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị. Về s tiền bảo hiểm, bị đơn không đồng ý x c định giá trị bảo hiểm như nguyên đơn yêu cầu; vì:
Căn cứ chứng thư thẩm định giá s 02226207 -PD, toàn bộ các tài sản là hàng hóa, máy móc bị tổn thất ngày 09/9/2019 và 10/9/2019 tại kho của Công ty S và công t c khắc phục tổn thất có tổng gi trị là 8.407.895.000đ. Sau khi trừ đi s tiền Công ty S đã nhận được từ việc thanh lý tài sản 662.347.511đ thì tổn thất còn 7.745.547.489đ.
Công ty G1 (gọi tắt là OVI) chỉ thẩm định giá trị tài sản hàng hóa, máy móc bị tổn thất mà không thẩm định được những hàng hóa máy móc bị tổn thất đó có phải đ i tượng được bảo hiểm hay không để làm căn cứ chi trả quyền lợi bảo hiểm.
Do vậy, Chứng thư thẩm định giá của OVI chưa phải là căn cứ để BIC thực hiện việc chi trả bồi thường cho Tuấn M. Mặt khác, OVI chỉ x c định giá trị hàng hóa theo danh sách có sẵn, không xem xét s lượng, giá trị hàng tồn kho, theo c c chuẩn mực của Hệ th ng chuẩn mực Kế toán Việt Nam, Luật kế toán s 88/2015/QH13 và c c thông tư hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp. Cụ thể báo cáo không chỉ ra được vào thời điểm ngay trước khi xảy ra tổn thất, hàng tồn kho của doanh nghiệp có s lượng là bao nhiêu? Có phù hợp theo s hàng hiện hữu không? Có hồ sơ tài liệu để chứng minh s lượng tồn là của Tuấn M không? Do đó, gi trị thẩm định này không khách quan, không thể dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Kh i lượng kính thành phẩm theo Báo cáo thẩm định giá của OVI (5.249,114 m2) là cao hơn kh i lượng đã được các bên ghi nhận và th ng nhất (5.143,60 m2), từ đó ảnh hưởng tới việc x c định giá trị tổn thất trên thực tế.
Căn cứ theo mức độ tổn thất ghi nhận thực tế tại hiện trường và bảng kê chi phí các hạng mục mà Tuấn M cung cấp, bị đơn thấy nhiều hạng mục Tuấn Minh khiếu nại không được các bên ghi nhận bị hư hỏng, tổn thất. Theo nguyên tắc thì c c tổn thất không được các bên ghi nhận sẽ không được xem xét trong giải quyết khiếu nại. Thế nhưng OVI vẫn đ nh gi tổn thất của các tài sản trên và đưa vào kết luận gi m định.
OVI chỉ xem xét giá trị mà không xem xét nguồn g c tài sản và người sở hữu. Căn cứ hồ sơ do Tuấn M cung cấp, có rất nhiều tài sản của Doanh nghiệp tư nhân T2 (không phải của Công ty TNHH S). Cụ thể: Các hạng mục Dây chuyền ghép kính (m y rửa kính, m y d n phim, m y ép nhiệt, lò hấp), m y mài kính, thiết bị nâng hạ kính chân không, m y cắt LS02 đang thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp tư nhân T2 và không phải của Cty TNHH Sản xuất thương mại T4, nên không thuộc đ i tượng được bảo hiểm nhưng vẫn được OVI xác định là tổn thất. Ngoài ra OVI chỉ tính toán tổn thất theo giá trị thị trường dựa trên hóa đơn mà Tòa n cung cấp, không tính khấu hao tài sản dẫn tới có sự chênh lệch về gi trị. Tại trang 28/28 của Chứng Thư thẩm định, chính OVI đã thừa nhận hạn chế của kết quả thẩm định gi là “ ...không khảo sát trực tiếp tại hiện trường để đối chiếu với các số liệu liên quan ... nên bị hạn chế về mặt đánh giá hạng mục và số lượng còn lại của các hạng mục đã đầu tư, mua sắm...”. Đây là vi phạm nghiêm trọng của OVI trong quá trình thực hiện thẩm định theo quy định tại Điều 30 Luật giá.
Vì vậy, bị đơn cho rằng Chứng thư thẩm định s 02226207 - PD ngày 30/9/2022 của OVI là chưa kh ch quan, chưa phản nh đúng tổn thất của tài sản bị tổn thất vào ngày 09/9/2019 và 10/9/2019 tại kho của Tuấn M; vi phạm thủ tục, quy trình thẩm định giá theo Luật gi và chưa x c định được giá trị hàng hóa, máy móc bị thiệt hại có phải là đ i tượng được bảo hiểm hay không. Do vậy không thể dùng Chứng thư thẩm định giá của OVI để làm căn cứ giải quyết vụ án này.
Về s tiền yêu cầu bồi thường về thiệt hại máy móc thiết bị của Công ty S, bị đơn cho rằng tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý với kết quả thẩm định giá của OVI với giá trị tổn thất được tính là 7.745.547.489đ; nguyên đơn cũng đồng ý p dụng nguyên tắc bảo hiểm dưới giá trị quy định tại Quy tắc mọi rủi ro tài sản ban hành kèm theo Quyết định s 3291/QĐ-TSKT ngày 01 th ng 12 năm 2010 của Tổng Gi m đ c Tổng Công ty B. Từ đó, nguyên đơn đưa ra con s thiệt hại là 6.858.000.000đ, sau khi đã p dụng nguyên tắc bảo hiểm dưới giá trị bởi Tuấn M cho rằng tại thời điểm xảy ra tổn thất, hàng hóa trong kho chỉ có hơn 22 tỷ đồng chứ không phải là hơn 41 tỷ như trong Biên bản làm việc s 05 ngày 25/12/2019, còn con s 41 tỷ ở trong biên bản s 05 T cho rằng là con s tồn kho trên sổ s ch. Bị đơn cho rằng điều này không có cơ sở bởi tại Biên bản làm việc s 05 được lập giữa Tuấn M và VICO là bản ghi nhận kiểm đếm thực tế tại kho của Tuấn M. Việc kiểm đếm đã được các bên lập thành biên bản và có đầy đủ chữ ký và con dấu của Đại diện theo pháp luật của nguyên đơn. Tại phiên tòa, VICO cũng x c định đây là kh i lượng hàng hóa thực tế tại kho Tuấn M tại thời điểm ngày 15/9/2019. Bị đơn cũng cung cấp cho HĐXX một bản tồn kho trên sổ sách với giá trị hàng hóa hơn 40 tỷ đồng do Tuấn M cung cấp cho BIC. Lượng hàng hóa này phù hợp với báo cáo tài chính của Công ty S vào năm 2018. Đây mới là tài liệu thể hiện tồn kho trên sổ s ch. Nguyên đơn không dẫn chứng được căn cứ chứng minh hàng hóa trong kho tại thời điểm xảy ra tổn thất là 22 tỷ. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận con s mà nguyên đơn đưa ra về kh i lượng hàng hóa trong kho lúc xảy ra tổn thất. Bị đơn cho rằng nếu con s thiệt hại OVI đưa ra là đúng thì s tiền bồi thường phải p dụng theo công thức: 7.745.547.489đ x 20.000.000.000đ/41.994.664.127đ = 3.688.824.592đ
Đ i với yêu cầu thanh to n tiền lãi chậm trả của nguyên đơn: Bị đơn x c định, tại Điều 12.2 Hợp đồng bảo hiểm 22192186 quy định rõ, BIC sẽ có tr ch nhiệm giải quyết yêu cầu bồi thường của Tuấn M trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ khiếu nại hợp lệ. Mặc dù BIC và VICO đã rất nhiều lần yêu cầu Công ty S hoàn thiện c c hồ sơ, chứng từ để chứng minh các tài sản bị tổn thất thuộc đ i tượng được bảo hiểm trong Hợp đồng. Tuy nhiên cho tới nay nguyên đơn vẫn c tình không cung cấp đầy đủ hồ sơ mà BIC và VICO yêu cầu. Đó là lý do VICO không thể ban hành “Kết luận giám định” để BIC làm căn cứ thực hiện việc chi trả tiền bồi thường cho Tuấn M, việc này hoàn toàn do lỗi của Tuấn M.
Ngoài ra cũng tại Điều 11 Hợp đồng bảo hiểm đã nêu rõ: “Kết luận giám định độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên và là cơ sở để xem xét giải quyết bồi thường; Trong trường hợp các bên không thống nhất được về kết luận giám định thì hai bên thỏa thuận trưng cầu giám định viên độc lập để giám định lại”. Như vậy, về nguyên tắc, BIC không thể tiến hành chi trả tiền bồi thường cho Tuấn M khi chưa có Kết luận gi m định độc lập về tổn thất. Sau khi hai bên đồng ý yêu cầu Tòa n chỉ định đơn vị gi m định độc lập thì cho tới ngày 30/9/2022 OVI mới ban hành Chứng thư thẩm định s 02226207 – PD. Do vậy việc chưa chi trả tiền bồi thường cho Tuấn M không phải lỗi của BIC. Việc Tuấn M yêu cầu BIC thanh to n tiền lãi chậm trả từ ngày 01/01/2020 đến ngày tòa án đưa vụ án ra xét xử với s tiền là 3.528.000.000đ là không có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra cũng không có căn cứ áp dụng mức lãi suất là 13%/năm như của Tuấn M đưa ra tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
VICO trình bày: VICO là đơn vị được BIC ủy quyền thực hiện việc giám định tổn thất của Công ty S sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. VICO đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và chức năng của việc gi m định thiệt hại. Lý do VICO không đưa ra được chứng thư gi m định vì Công ty S không thực hiện việc cung cấp đủ hồ sơ theo yêu cầu. Việc VICO x c định giá trị hàng ho và gi trị thiệt hại để đưa ra con s thiệt hại là căn cứ vào gi thị trường.
Đại diện theo ủy quyền của Công ty G1 trình bày:
Việc OVI thực hiện thẩm định gi là căn cứ vào quyết định trưng cầu của Tòa n. Việc x c định gi trị thiệt hại trong trường hợp này không thể căn cứ vào gi trị hàng hóa b n ra như VICO sử dụng làm căn cứ mà phải căn cứ vào gi trị hàng hóa thực tế trong kho, vì nếu căn cứ vào gi trị hàng hóa b n ra sẽ phải tính cả c c chi phí ph t sinh kh c liên quan đến lợi nhuận, khi đó sẽ không phản ánh đúng tình trạng thực tế là hàng hóa vẫn đang ở kho. Đó chính là lý do chứng thư thẩm định ghi hạn chế của việc không khảo s t gi thị trường chứ không có nghĩa việc thực hiện thẩm định gi là vi phạm thủ tục như bị đơn có ý kiến. OVI thực hiện việc thẩm định gi hoàn toàn tuân thủ quy định của luật gi .
Tại bản n Kinh doanh thương mại sơ thẩm s 29/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 Tòa n nhân dân thành ph Th i Nguyên đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 30, điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 165, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật t tụng dân sự năm 2015; Điều: 357, 468, của Bộ luật Dân sự năm 2005Điều 12, 13, 14, 15, 17, 18, 29, 46 và 47 của Luật Kinh doanh bảo hiểm; Án lệ s 09/2016/AL; Nghị quyết s 01/2019/NQ-HĐTP11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa n nhân dân t i cao hướng dẫn áp dụng một s quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH1430 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH S đ i với Tổng Công ty cổ phần B về việc yêu cầu thực hiện hợp đồng bảo hiểm s 22192186 ngày 08/5/2019.
Buộc Tổng Công ty cổ phần B phải bồi thường cho Công ty TNHH S s tiền là 9.650.558.919đ (chín tỷ s u trăm năm mươi triệu năm trăm năm mươi tám nghìn chín trăm mười chín đồng), gồm tiền bảo hiểm thiệt hại hàng hóa là 6.372.195.348đ (s u tỷ ba trăm bẩy mươi hai triệu một trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm b n mươi t m đồng) và tiền lãi chậm trả là 3.278.363.571đ (ba tỷ hai trăm bẩy mươi t m triệu ba trăm s u mươi ba nghìn năm trăm bẩy mươi m t đồng).
Ngoài ra bản n sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí t tụng và quyền kháng cáo của c c đương sự.
Ngày 09/10/2023, bị đơn Tổng Công ty B có đơn kh ng c o toàn bộ bản án sơ thẩm. Lý do kháng cáo bị đơn cho rằng: Toà án cấp sơ thẩm không xem xét hết c c tình tiết kh ch quan của vụ n, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn x c định không kháng cáo, nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm. Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kh ng c o. Bị đơn cung cấp cho Hội đồng xét xử bản Tổng hợp xuất, nhập, tồn của Công ty S từ ngày 01/01/2019 đến ngày 09/9/2019 (bản phô tô) và Phụ lục B o c o s 3 của Công ty T5.
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn tranh luận cho rằng:
Tại Biên bản làm việc ngày 17/6/2022 tại Toà án cấp sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn thoả thuận đề nghị Toà án chỉ định Gi m định viên độc lập để giám định tài sản. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm chỉ định Ovi thẩm định giá tài sản thiệt hại là không đúng thoả thuận và sử dụng chứng thư thẩm định giá này là vi phạm nghiêm trọng thủ tục t tụng. Về tổng s tài sản tồn kho tại thời điểm xảy ra tổn thất, theo Bảng Tổng hợp xuất, nhập, tồn của Công ty S tính đến ngày 10/9/2019, tổng gi trị hàng ho trong kho là 40.404.989.680 đồng. Ngoài s lượng hàng hoá bị thiệt hại trong kho của Tuấn M theo Biên bản gi m định, còn có hàng ho không bị thiệt hại. Bị đơn không nhất trí với chi phí sửa chữa m y móc, vì m y móc bị hư hỏng trong kho thuộc quyền sở hữu tài sản của Doanh nghiệp tư nhân T2. Công ty S đã được khấu trừ thuế VAT, tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm đã tính bồi thường cả phần tài sản đã được khấu trừ thuế VAT 10%. Trong Hợp đồng bảo hiểm quy định: Kết luận gi m định độc lập có giá trị bắt buộc đ i với c c bên và là cơ sở để xem xét giải quyết bồi thường; Trong trường hợp các bên không th ng nhất được về kết luận gi m định thì hai bên thỏa thuận trưng cầu gi m định viên độc lập để gi m định lại. Bị đơn không chấp nhận tính lãi chậm thanh to n bồi thường từ th ng 1/2020, đề nghị tính lãi từ 30/9/2022.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, huỷ n sơ thẩm, hoặc sửa n sơ thẩm tính mức hàng hoá tồn kho theo sổ s ch là hơn 40 tỷ đồng; không chấp nhận chi phí sửa máy móc; loại trừ khoản tiền thuế VAT, không chấp nhận khoản tiền lãi chậm trả từ th ng 01/2020.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn tranh luận cho rằng:
Về s lượng hàng tồn kho: Tại các biên bản gi m định của Vico đều ghi nhận tổng s hàng tồn kho là kính nguyên tấm, kính thành phẩm và màng PVB, x c định là hơn 22 tỷ đồng. Bị đơn căn cứ vào sổ sách kế toán, thẻ kho và bảng kê tài sản trong đó có cả sản phẩm sữa 7,2 tỷ đồng để x c định tổng tài sản trong kho tại thời điểm tổn thất hơn 40 tỷ đồng là không phù hợp thực tế. Các vấn đề kh c nguyên đơn giữ nguyên nội dung quan điểm tại Toà án cấp sơ thẩm như phần nội dung trình bày nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản n sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Th i Nguyên ph t biểu quan điểm: Thẩm ph n chủ tọa, Hội đồng xét xử và c c đương sự chấp hành đúng c c quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ n, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kh ng c o của bị đơn, giữ nguyên bản n sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm s t phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Tổng Công ty CP B (B1) kh ng c o trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng n phí phúc thẩm hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kh ng c o của bị đơn Hội đồng xét xử, thấy:
Ngày 08/5/2019, Công ty S ký hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản s 22192186 với BIC T, là đơn vị thành viên của Tổng Công ty cổ phần B (B1) để bảo hiểm cho c c tài sản của Công ty S, tại tổ A (nay là tổ A), phường T, thành ph T, nơi Công ty S đặt trụ sở và là nơi trực tiếp sản xuất kinh doanh kính. Thời hạn bảo hiểm đến ngày 08/5/2020. Danh mục tài sản được bảo hiểm bao gồm: Nhà xưởng, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị và hàng hóa trong kho. Tổng giá trị hợp đồng bảo hiểm là 26.250.000.000đ, trong đó, bảo hiểm nhà xưởng, vật kiến trúc 2.670.000.000đ, bảo hiểm máy móc, thiết bị 3.580.000.000đ, bảo hiểm hàng hóa trong kho 20.000.000.000đ.
Về nội dung, quyền và nghĩa vụ của c c bên thoả thuận trong Hợp đồng bảo hiểm c c bên không có tranh chấp.
Về sự kiện bảo hiểm xảy ra trong đêm ngày 09/9/2019 đến sáng ngày 10/9/2019, mưa lớn kéo dài làm trụ sở Công ty S bị ngập nước cao khoảng 1,2m, toàn bộ nhà xưởng rộng khoảng 10.000m2 bị ngập nước. Trong nhà xưởng chứa toàn bộ kính các loại, máy móc các loại, máy thiết bị văn phòng bị ngập nước, các bên không có tranh chấp.
Bị đơn cho rằng, giá trị hàng tồn kho trên sổ sách của Công ty S bao gồm 03 loại hàng hoá là đối tượng được bảo hiểm là 41.994.664.127 đồng, đề nghị áp dụng bảo hiểm dưới giá trị 20.000.000.000/41.994.664.127, xét thấy:
Ngày 10/9/2019 Công ty B2 chỉ định Công ty cổ phần G (gọi tắt là B2) tiến hành gi m định. Việc chỉ định đơn vị gi m định thiệt hại tài sản được thực hiện theo thoả thuận tại Điều 11 của Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro tài sản s 22192186 để tiến hành gi m định tổn thất. Tại biên bản gi m định s 01 ngày 15/9/2019, do Vico thực hiện gi m định có c c nội dung cụ thể như sau:
Mục 5. Điều tra của gi m định viên (bút lục s 480):
Tại thời điểm giám định hiện trường Vico đo được dấu vết mép nước để lại trên tường sau khi nước rút cao từ 70 - 110 cm tuỳ từng vị trí đo đạc được trong nhà xưởng.
Hàng hoá trong kho được kê lên các pallet gỗ cao từ 5-10cm và các kệ có bánh xe cao 20 cm.
Tại thời điểm giám định hàng hoá, máy móc thiết bị, tài sản bị tổn thất còn nguyên tại hiện trường. Hàng hoá bị tổn thất tại kho chủ yếu là kính nguyên liệu khổ lớn, thành phẩm kính các loại.
Mục I. Kính nguyên liệu trong kho: Mục A. Kính dán nguyên tấm và Mục B. Kính nguyên tấm bị ngập nước lẫn dầu tổng cộng: 110.884,52 m2. Mục II. Màng PVB nguyên liệu trong kho gồm loại hỏng 100% và loại nghi ngờ hỏng là 44 cuộn (bút lục từ số 481 đến 487).
Biên bản làm việc s 05 ngày 25/12/2019 của V với Công ty S, tại Mục B/ Tổng hợp tồn kho tại thời điểm tổn thất: Chi tiết theo bảng tổng hợp kiểm đếm hàng đính kèm (bút lục s 453).
Bảng tổng hợp đính kèm tổng tồn kho kính nguyên tấm ngày 15/9/2019 bao gồm: Hàng bị ngập nước đang xử lý và hàng bị ngập nước hư hỏng không xử lý được, tổng cộng là 111.412,73 m2; tổng tồn kho kính thành phẩm là 23.629,613 m2; màng PVB là 44 cuộn (bút lục từ 440 đến 451).
Như vậy, khi ngập lụt xảy ra, mức nước trong kho x c định cao từ 70-110cm và hàng ho chủ yếu là c c loại kính khổ lớn được kê ở độ cao từ 5 – 10 cm và 20 cm, đủ cơ sở x c định toàn bộ hàng hoá trong kho bị ngập nước như Biên bản gi m định s 01 của Vico viện dẫn nêu trên là có căn cứ. Bị đơn cho rằng ngoài s hàng hoá là kính thành phẩm, kính nguyên tấm, màng PVB nêu trong Biên bản gi m định s 01 ngày 15/9/2019 và Biên bản làm việc s 05 ngày 25/12/2019 kèm theo danh sách tài sản tồn kho đính kèm thì trong kho của Tuấn M còn c c tài sản kh c không bị hư hỏng, chưa được liệt kê, nhưng bị đơn không đưa ra được lý do s hàng ho là kính, màng PVB không bị hư hỏng để ở chỗ nào trong kho khi toàn bộ kho bị ngập nước theo biên bản gi m định là không có căn cứ.
Bị đơn cho rằng hàng hoá tồn kho tại thời điểm tổn thất tính theo Thẻ kho và trên sổ sách, báo cáo tài chính là trên 40 tỷ đồng. Xét thấy, Hàng hoá có trên sổ s ch của Công ty bao gồm cả hàng hoá có tại địa điểm được bảo hiểm, không có tại địa điểm được bảo hiểm, Hàng hoá đang trong trạng thái công nợ phải thu, Công ty chưa xuất ho đơn... Ngoài ra, theo tổng hợp tài sản trên sổ s ch của Công ty S còn có cả mặt hàng sữa trị gi 7,2 tỷ đồng.
Bị đơn cho rằng, tại thời điểm tổn thất hàng hoá trong kho Công ty S có giá trị trên 40 tỷ và đề nghị áp dụng bảo hiểm dưới giá trị theo s liệu này là không có căn cứ.
Về quyết định chỉ định thẩm định giá của Toà án cấp sơ thẩm:
Tại biên bản làm việc ngày 17/06/2022 của Toà án cấp sơ thẩm với nguyên đơn và bị đơn, c c đương sự đều x c định:
1, Về số lượng hàng hoá bị tổn thất (thiệt hại) đã được xác định tại biên bản làm việc số 06 ngày 24/8/2020 và Biên bản làm việc số 07 ngày 25/8/2020 giữa Công ty S với V và đại diện B1, các bên đương sự không có thắc mắc gì về biên bản nói trên.
2, Về giá trị tổn thất: Nguyên đơn xác định giá trị hàng hoá tổn thất là 8.740.273.950 đồng. Bị đơn xác định giá trị tổn thất theo Báo cáo dự phòng do V lập ngày 30/12/2020 là 6.898.933.064 đồng nếu nguyên đơn chứng minh được đầy đủ hồ sơ khắc phục, hồ sơ chứng minh được quyền lợi được bảo hiểm đối với toàn bộ lô hàng hoá theo biên bản làm việc số 06 và 07 nói trên.
Các bên không thống nhất được giá trị tổn thất, nhất trí đề nghị Toà án chỉ định giám định viên độc lập để xác định giá trị hàng hoá bị tổn thất (bút lục s 932).
Do các bên không có phản đ i gì về kết luận gi m định của V về nguyên nhân và mức độ tổn thất, chỉ không th ng nhất được với nhau về gi trị hàng ho thiệt hại, do VICO p dụng theo giá thị trường, nhưng không đưa ra căn cứ chứng minh cho giá thị trường mà V p dụng. C c bên không tranh chấp về nguyên nhân và mức độ tổn thất, nên không có căn cứ chỉ định gi m định viên độc lập theo thoả thuận của các bên theo khoản 2 Điều 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
Các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản bị thiệt hại được bồi thường theo giá thị trường. Vì vậy, để x c định giá thị trường của hàng hoá tổn thất buộc phải trưng cầu tổ chức thẩm định giá mới có chức năng này, không thể trưng cầu công ty gi m định bảo hiểm, vì Công ty giám định bảo hiểm chỉ có chức năng x c định Nguyên nhân và Mức độ tổn thất theo quy định tại Điều 48 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
Toà án cấp sơ thẩm quyết định chỉ định Công ty thẩm định gi để x c định giá trị hàng ho tổn thất là phù hợp với nội dung theo sự thoả thuận, lựa chọn của c c đương sự tại biên bản làm việc ngày 17/6/2022, theo quy định tại Điều 104 Bộ luật t tụng dân sự.
Về kháng cáo không nhất trí bồi thường thiệt hại tài sản là máy móc thiết bị thuộc sở hữu của Doanh nghiệp tư nhân T2:
Khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định “9. Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.”
C c m y móc thuộc sở hữu của Doanh tư nhân T6 về bản chất là tài sản của ông Dương Công L, gi m đ c Công ty TNHH S làm chủ, đang được Công ty quản lý và sử dụng, nên Công ty S hoàn toàn có quyền mua bảo hiểm cho c c máy móc này.
Tại bảng Danh mục tài sản tham gia bảo hiểm kèm theo hợp đồng bảo hiểm s 22192186 BIC T đã liệt kê chi tiết từng m y móc tham gia bảo hiểm kèm theo s ho đơn VAT mua m y, trên ho đơn ghi rõ bên mua là Doanh nghiệp tư nhân T2, nghĩa là m y móc thuộc sở hữu của doanh nghiệp tư nhân T2 (Bút lục s 603). Đến thời điểm hiện nay BIC vẫn không có thông b o chính thức nào x c định c c m y móc thiết bị trên của Doanh nghiệp tư nhân T2 không phải là đ i tượng được bảo hiểm và hoàn trả lại phí bảo hiểm cho c c m y móc đó cho Công ty S. Như vậy, BIC đã chấp nhận bảo hiểm cho các máy móc đứng tên Doanh nghiệp tư nhân Tuấn M theo đúng nguyên tắc quyền lợi có thể bảo hiểm quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm.
Toà án cấp sơ thẩm x c định các tài sản thuộc sở hữu của Doanh nghiệp tư nhận Tuấn M bị thiệt hại có trong bảng Danh mục tài sản tham gia bảo hiểm kèm theo hợp đồng bảo hiểm s 22192186 BIC T đã liệt kê là đ i tượng được bảo hiểm là có căn cứ.
Về kháng cáo cho rằng Toà án cấp sơ thẩm tính giá trị bồi thường tổn thất hàng hoá bao gồm cả phần thuế Giá trị gia tăng Công ty S được khấu trừ đầu vào:
Khoản 12.1 Điều 12 Hợp đồng bảo hiểm quy định: BIC bồi thường thiệt hại theo giá thị trường của tài sản tại thời điểm tổn thất, giá thị trường của hàng ho là gi đã có thuế giá trị gia tăng, nên OVI thẩm định giá trị hàng hoá tổn thất theo giá thị trường đã có thuế giá trị gia tăng là phù hợp. Tr ch nhiệm của BIC là bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, tức là bồi thường thiệt hại theo giá thị trường đã có thuế Giá trị gia tăng.
Việc Công ty S được khấu trừ thuế Giá trị gia tăng đầu vào là quyền và nghĩa vụ của Công ty S với cơ quan thuế. Sau khi BIC bồi thường, Công ty S có trách nhiệm quyết toán lại với cơ quan thuế theo quy định.
Về nội dung kháng cáo liên quan đến khoản tiền lãi chậm thanh toán:
Điều 29 của Luật Kinh doanh bảo hiểm về thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường: “Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp B3 phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường”.
Tại biên bản gi m định s 01 ngày 15/09/2019 (bút lục s 479) VICO yêu cầu c c tài liệu và được Công ty S ký x c nhận, Biên bản làm việc s 04 ngày 17/12/2019 VICO đã nhận được c c tài liệu cụ thể (Bút lục 427); Công văn s 43/2020/CV-VICO ngày 17/01/2020 của VICO x c nhận đã nhận được c c tài liệu do Công ty S nộp. Như vậy, Công ty S đã cung cấp đầy đủ hồ sơ cho VICO theo yêu cầu trong năm 2019.
Điều 12.2 của Hợp đồng bảo hiểm rủi ro mọi tài sản s B, các bên thoả thuận về thời hạn trả tiền bồi thường: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bên B nhận được đầy đủ hồ sơ khiếu nại đòi bồi thường hợp lệ, bên B có trách nhiệm giải quyết việc bồi thường cho bên A.
Công ty S đã cung cấp đầy đủ hồ sơ để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất theo quy định tại Điều 48 Luật Kinh doanh bảo hiểm, là: X c định phạm vi tr ch nhiệm bảo hiểm và tính to n s tiền bồi thường.
C c bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm bồi thường thiệt hại theo gi thị trường của tài sản tại thời điểm tổn thất, VICO yêu cầu Công ty S cung cấp c c hồ sơ đầu vào và c c chi phí cấu thành lên gi thành sản phẩm là không đúng với thoả thuận trong hợp đồng. BIC cũng cho rằng phải 30 ngày sau khi OVI ra chứng thư thẩm định giá mới được tính lãi chậm trả là không đúng. Vì BIC phải tính ra giá thị trường và thông báo cho Công ty S ngay sau khi VICO x c định được kh i lượng tổn thất trong năm 2019 nhưng BIC đã không thực hiện nên Toà n mới phải trưng cầu thẩm định giá.
Toà n cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Công ty B2 thời điểm tính lãi chậm trả từ 01/01/2020, sau 111 ngày kể từ ngày xảy ra tổn thất là phù hợp. Ngoài ra, Công ty S cũng chỉ yêu cầu tính lãi đến ngày 19/8/2023, trước ngày Toà n cấp sơ thẩm ra quyết định đưa vụ n ra xét xử sơ thẩm và không yêu cầu tính lãi tiếp sau ngày 19/8/2023 và sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi BIC thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường là đã có lợi cho BIC.
Về mức lãi suất chậm trả:
Điều 306 Luật Thương mại về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán quy định:
Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán…
Toà án cấp sơ thẩm thu thập mức lãi suất qu hạn trung bình của 03 Ngân hàng là 13,94%/năm, nguyên đơn yêu cầu p dụng mức lãi suất 13,5% là có lợi cho bị đơn.
Từ những phân tích và điều luật viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kh ng c o của bị đơn Tổng Công ty B, giữ nguyên bản n sơ thẩm s 09/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Toà n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên.
Về án phí phúc thẩm:
Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu n phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của ph p luật.
C c quyết định kh c của bản n Kinh doanh thương mại sơ thẩm s 09/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Toà n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên không có kh ng c o, không bị kh ng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kh ng c o, kh ng nghị.
Từ những phân tích nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự, không chấp nhận kháng c o của bị đơn Tổng Công ty cổ phần B, giữ nguyên bản n Kinh doanh thương mại sơ thẩm s 09/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Toà n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Th i Nguyên.
2. Án phí phúc thẩm: Tổng Công ty cổ phần B phải chịu 2.000.000 đồng án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ vào 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu s 0002133 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành n dân sự thành ph Th i Nguyên.
3. C c quyết định kh c của bản n Kinh doanh thương mại sơ thẩm s 09/2023/KDTM-ST ngày 26/9/2023 của Toà n nhân dân thành ph Th i Nguyên, tỉnh Thái Nguyên không có kh ng c o, không bị kh ng nghị có hiệu lực ph p luật kể từ ngày hết thời hạn kh ng c o, kh ng nghị.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Th i Nguyên; - TAND thành ph Th i Nguyên; - Chi cục THADS TPTN; - C c đương sự; - Lưu hồ sơ vụ n. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Hoàng Quý Sửu |