vanban.org

Bản án 04/HSST — Hình sự

TAND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 14/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nịnh Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/ Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo: Nịnh Văn T 01 (Một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nịnh Văn T có hành vi gây thương tích cho chị Lý Thị V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 13…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nịnh Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN ĐỘNG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04 /2020/HSST
Ngày 14 - 01 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG - TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Chung

2. Ông Lương Văn Hoàng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên Sơ cấp.

Trong ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2019/HS - ST, ngày 02/12/2019, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXX – HSST ngày 02/01/2020, đối với bị cáo:

Nịnh Văn T, sinh năm 1982

Họ tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ (V), xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Cao lan; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; trình độ văn hoá: Học lớp 3/12; con ông Nịnh Văn P, con bà Mè Thị S; Anh, chị, em ruột: bị cáo có 05 anh chị em; Vợ Lý Thị V và có 03 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Những người tham gia tố tụng:

- Bị cáo: Nịnh Văn T, sinh năm 1982 Trú quán: thôn Đ (V), xã G, H. S, Bắc Giang.

- Người bị hại: Chị Lý Thị V, sinh năm 1983; có mặt Trú quán: thôn Đ (V), xã G, H. S, Bắc Giang.

- Người làm chứng:

Chị Nịnh Thị Th, sinh năm 2006; có mặt

Anh Nịnh Văn Tr, sinh năm 1986; vắng mặt

Ông Trần Văn T1, sinh năm 1974; vắng mặt

Bà Mè Thị S, sinh năm 1949; có mặt Trú quán: thôn Đ (V), xã G, H. S, Bắc Giang.

* Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên toà: Không.

NHẬN THẤY

Bản cáo trạng số 22/2019/CT - VKS - SĐ, ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố Nịnh Văn T về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 - Bộ luật hình sự.

Tóm tắt nội dung vụ án như sau: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 02/8/2019, chị Lý Thị V, sinh năm 1983 ở thôn Đ (nay là thôn V), xã G, huyện S, tỉnh Bắc Giang cùng con gái là Nịnh Thị Th, sinh năm 2006 đi làm vườn của gia đình tại thôn Đ về tới nhà thì thấy Nịnh Văn T, sinh năm 1982 (là chồng của chị V) đang ngồi ăn cơm với hai con gái là Nịnh Thị Phương U, sinh năm 2011 và Nịnh Thị Phương K, sinh năm 2016. Do đã sử dụng rượu nên khi thấy chị V và cháu Th đi làm về thì Nịnh Văn T đã bắt cháu Th quỳ xuống để nhìn Thực ăn cơm, cháu Th không nghe lời, T đứng dậy dùng chân đạp mạnh vào cửa nhà khiến thanh gỗ trên cửa rơi xuống, T cầm thanh gỗ trên định đánh cháu Th thì chị V lao vào giằng co và vứt thanh gỗ đi rồi bảo các con chạy đi mẹ sẽ chạy theo sau. Lúc này T chạy xuống gần nhà bếp để lấy thanh kim loại kích thước dài 80,2cm, đường kính 1,1cm đuổi theo chị V để đánh, chị V chạy được một đoạn cách nhà khoảng 15m thì T đuổi kịp và bất ngờ dùng tay phải cầm thanh kim loại có đặc điểm nêu trên đánh liên tục theo chiều từ trên xuống dưới, từ trái qua phải 03(ba) cái vào vùng đầu của chị V, trong đó 01 cái đầu tiên đánh vào phần thái dương trái làm chị V bị choáng váng, Thực tiếp tục dùng thanh sắt đánh 01 cái vào vùng thái dương bên trái và 01 cái ở đỉnh đầu gây nên 02 vết thương, khiến chị V bất tỉnh nằm tại chỗ, máu chảy nhiều, thấy chị V bị đánh cháu Th cùng bà nội (mẹ của T) ôm lấy V và lấy khăn quấn lấy vùng vết thương, sau đó có Nịnh Văn Tr là em của T chở xe máy đến nhà ông Trần Văn T1 cùng thôn thuê ô tô chở chị V đi cấp cứu tại trung tâm y tế huyện Sơn Động.

Cơ quan điều tra Công an huyện Sơn Động đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra xác định vị trí Nịnh Văn T dùng thanh kim loại gây thương tích đối với chị Lý Thị V, quá trình khám nghiệm, thực nghiệm tiến hành chụp ảnh lưu hồ sơ vụ án. Ngày 04 tháng 10 năm 2019, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu số 105 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định thanh kim loại Nịnh Văn T dùng để gây thương tích cho chị Lý Thị V có vết máu người không. Ngày 10/10/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có kết luận số 1591/KL-KTHS xác định: Trên thanh kim loại gửi giám định không phát hiện thấy dấu vết máu người.

Đến ngày 15/8/2019 thì chị Lý Thị V được ra viện, chị V đã làm đơn đề nghị giám định sức khỏe và đề nghị xử lý hình sự đối với Nịnh Văn T.

Căn cứ giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện đa khoa huyện Sơn Động xác định: chị Lý Thị V vào viện lúc 14 giờ 04 phút ngày 02/8/2019, ra viện lúc 15 giờ 30 phút ngày 15/8/2019. Tình trạng thương tích lúc vào viện: vùng đỉnh đầu có 01 vết thương từ trước ra sau dài 15cm chảy máu, vùng thái dương đỉnh trái có 01 vết thương dài 03cm.

Ngày 18/9/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Động ra quyết định trưng cầu số 99, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang giám định tỷ lệ thương tích cho chị Lý Thị V. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số: 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế; Ngày 19/9/2019, Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang có Bản kết luận giám định về thương tích số 9065/19/TgT, kết luận: thương tích vết sẹo vùng đỉnh đầu 4%, thương tích vết sẹo vùng thái dương trái 3%; tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 7% (bẩy phần trăm). Các thương tích do vật cứng gây nên. Chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau.

Quá trình điều tra Nịnh Văn T đã thừa nhân toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và lời khai của người chứng kiến.

Tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và người làm chứng khai như đã khai tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động đã phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định.Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nịnh Văn T về tội "Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nịnh Văn T mức án từ 08 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về Trách nhiệm dân sự: Nịnh Văn T phải bồi thường thiệt hại cho bà Lý Thị V số tiền là 15.000.000đ.

Về vật chứng : Áp dụng khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch Thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình trụ màu đen có kích thước 80,2 x 1,1cm thu giữ của Nịnh Văn T.

Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về án phí.

* Về phần tranh luận: Bị cáo, bị hại không tranh luận.

XÉT THẤY;

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của bị cáo đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra của Công an huyện Sơn Động, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Nịnh Văn T và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng; như vậy, hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nịnh Văn T thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm, thực nghiệm hiện trường, bệnh án điều trị, giấy chứng nhận thương tích, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 02/8/2019, tại thôn Đ (nay là thôn V), xã G, huyện S, Nịnh Văn T đã có hành vi dùng 01 thanh kim loại hình trụ màu đen có kích thước 80,2 x 1,1cm đánh vợ là chị Lý Thị V gây nên thương tích vùng đỉnh đầu và vùng thái dương bên trái. Theo Kết luận của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị V là 07%.

Từ nhận định nêu trên, xét hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 - Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng số 22/2019/CT – VKS - SĐ ngày 29/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo Nịnh Văn T về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án:

Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã dùng thanh sắt bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đã đánh 3 nhát vào đầu của chị V, đã xâm hại trực tiếp đến tính mạng sức khoẻ và tổn thất về tinh thần cho chị V. Bị cáo là người chồng, người cha không tốt, bị cáo đã tự ý vô cớ đánh con, sau khi được chị V cán ngăn bị cáo đã không tiếp thu, dừng lại mà lại còn dùng hung khí nguy hiểm là thanh sắt đánh vào đầu chị V, hành vi của bị cáo là táo bạo, côn đồ. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an ninh tại địa phương, hành vi đó pháp luật cần nghiêm trị. Việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử trước pháp luật là rất cần thiết để răn đe bị cáo nói riêng và ngăn ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Trước khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có thái độ thành thật khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 – Bộ luật hình sự. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa cần thiết phải lên một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo suy ngẫm và tự sửa chữa những lỗi lầm của mình gây ra. Hội đồng xét xử thấy bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cho bị cáo được hưởng mức hình phạt ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Chị Lý Thị V vào viện ngày 02/8/2019, ra viện ngày 15/8/2019, quá trình điều trị là 13 ngày. Quá trình điều tra và tại phiên tòa chị Lý Thị V yêu cầu Nịnh Văn T phải bồi thường tiền gồm: Tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện 13 ngày x 150.000đ/ngày là 1.950.000đ, tiền ăn uống 13 ngày là 1.300.000đ, tiền công một người chăm sóc trong thời gian nằm viện 3.250.000đ, tiền tổn thất tinh thần 8.500.000đ, tổng cộng là 15.000.000đ.

Xét thấy yêu cầu của chị V là chưa phù hợp theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận như sau: Tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện 13 ngày x 150.000đ/ngày là 1.950.000đ, tiền công một người chăm sóc trong thời gian nằm viện là 200.000đ/ngày x 13 ngày = 2.600.000đ, tiền tổn thất tinh thần bằng 5 tháng lương tối thiểu 1.490 x 5 = 6.950.000đ và tiền bồi dưỡng sức khỏe sau ra viện là: 3.000.000đ; tổng cộng là 15.000.000đ. Bị cáo nhất trí bồi thường cho chị V số tiền trên, nên HĐXX chấp nhận sự thỏa thuận về bồi thường của bị cáo cho chị V.

[5] Về vật chứng: Đối với 01 thanh kim loại hình trụ màu đen có kích thước 80,2 x 1,1cm thu giữ của Nịnh Văn T, T đã dùng vào việc phạm tội và 01 thanh kim loại hình trụ màu đen dài 60cm thu giữ của Nịnh Văn T, xét giá trị không lớn cần tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

[6] Về án phí : Bị cáo Nịnh Văn T là người dân tộc thiểu số, thường xuyên sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Nịnh Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/ Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo: Nịnh Văn T 01 (Một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nịnh Văn T phải bồi thường cho chị Lý Thị V số tiền là: 15.000.000đ (mười năm triệu đồng chẵn).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47- Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự :

Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình trụ màu đen có kích thước 80,2 x 1,1cm và 01 thanh kim loại hình trụ màu đen dài 60cm thu giữ của Nịnh Văn T.

Vật chứng đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.

5/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 - Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nịnh Văn T được miễn án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự.

T/ M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ