- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ksor H'L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ksor H’L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI ––––––––––––––– Bản án số: 04 /2022/HS-ST Ngày 16-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ksor H’Đuen.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Dương Văn Tuấn
2.Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần M Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2022/TLST-HS, ngày 19 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2022 và thông báo chuyển ngày xét xử ngày 21/02/2022 đối với bị cáo:
Ksor H’ L; tên gọi khác: Mí Quân; Sinh năm: 1979 tại: Ayun Pa, Gia Lai
Nơi ĐKNKTT: Bôn R , xã R , thị xã Ayun Pa, Gia Lai; dân tộc: Gia Rai; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Làm nông; cha là Rcom D, (đã chết); mẹ là Ksor H’C, SN: 1942; chồng là RÔ T (đã chết); có 03 người con, con lớn sinh năm 2002 và con nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án: có 01 tiền án . Ngày 16/3/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 25/2015/HSPT. Ngày 31/01/2019, bị cáo được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Ngày 16/7/2019, bị cáo chấp hành xong án phạt tù cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cũng như chấp hành xong phần án phí của bản án. Đến nay bị cáo chưa được xóa án tích.Tiền sự: Không, bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm: 1963; Trú tại: Thôn Thanh Bình, xã Ia peng, huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt có lý do.
Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Tuyết M: Anh Đoàn Việt Đ, sinh năm 1984 (con ruột bà M). Trú tại: Thôn T , xã P, huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người làm chứng: 1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1962
Địa chỉ: Thôn B , xã P, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Có mặt
2.Bà Vũ Thị L, sinh năm 1956. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai
3.Cháu Lê N, sinh năm 2007. Vắng mặt
Đại diện theo pháp luật của cháu Lê Ngọc: ông Lê Hùng C. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn T , xã P, huyện Phú thiện tỉnh Gia Lai
-Người phiên dịch: Ông Rcom Pu. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 00 ph t ngày 05/11/2021, Ksor H’L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81M1-098.26 đến chợ Thanh Bình thuộc thôn Thanh Bình, xã Ia Peng, huyện Ph Thiện, Gia Lai để mua trái cây. Tại đây, H’L để xe mô tô bên ngoài cổng rồi cầm giỏ xách nhựa màu đỏ đi bộ vào sạp trái cây của bà Nguyễn Thị Tuyết M Khi đến sạp trái cây của bà M, H’L phát hiện không có người bán hàng và trên sạp có một t i xách màu đen bên trong đựng tiền không có người trông coi nên H’L nảy sinh ý định trộm cắp số tiền trên nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. H’L lén l t đến lấy t i xách màu đen bên trong có tiền bỏ vào giỏ xách của mình và đi vòng ra phía sau sạp để tẩu thoát. H’L đi được khoảng 03 mét thì bị bà Lê Thị H đang bán hàng cạnh đó phát hiện hô hoán. Bị phát hiện, H’L lấy t i xách vải màu đen đã trộm cắp được ném về phía sau sạp hàng của bà H và cầm giỏ xách đỏ bỏ chạy ra hướng Quốc lộ 25 tẩu thoát, H’L chạy được khoảng 45m thì bị người dân và lực lượng Công an huyện Ph Thiện bắt giữ.
Quá trình bắt quả tang, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ph Thiện đã tạm giữ: 01 xe mô tô hãng Honda Wave RSX biển kiểm soát 81M1-098.26; 01 giỏ xách nhựa màu đỏ và 01 t i xách màu đen bên trong có tổng số tiền 26.730.000 đồng (Hai mươi sáu triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) gồm: 23 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 24 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 77 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 38 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 21 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 34 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 05 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 15 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 15 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG ngày 26/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ph Thiện kết luận: 01 t i xách vải màu đen cao 25cm, ngang 30cm tại thời điểm bị trộm cắp có trị giá còn lại 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản Ksor H’L trộm cắp được là 26.780.000 đồng (Hai mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng)
Ngày 05/11/2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can Ksor H’L về hành vi Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, Ksor H’L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra.
*Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ph Thiện đã tạm giữ vật chứng của vụ án gồm:
- 01 (một) xe mô tô hãng Honda Wave RSX biển kiểm soát 81M1-098.26 và 01 giỏ xách nhựa màu đỏ
- 01 (một) t i xách vải màu đen và số tiền 26.730.000 đồng (Hai mươi sáu triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng)
Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại 01 t i xách vải màu đen và số tiền 26.730.000 đồng cho bà Nguyễn Thị Tuyết M là chủ sở hữu hợp pháp
*Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Tuyết M đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 01 túi xách vải màu đen và số tiền 26.730.000 đồng. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Ksor H’L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Ksor H’L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
-Về vật chứng của vụ án: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô hãng Honda Wave RSX biển kiểm soát 81M1-098.26 màu đen xám, số máy JA38B0456041, số khung: 3826KY008018.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xách nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng.
-Về mặt dân sự: Bà Nguyễn Thị Tuyết M đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 01 t i xách vải màu đen và số tiền 26.730.000 đồng không yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 07 giờ 00 ph t ngày 05/11/2021, Ksor H’L đi đến sạp bán trái cây của bà Nguyễn Thị Tuyết M ở chợ T , xã P, huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai lén l t trộm cắp 01 t i xách vải màu đen bên trong có số tiền 26.730.000 đồng Khi H’L đang tẩu thoát thì bị Công an huyện Ph Thiện phát hiện bắt quả tang. Chiếc t i xách vải màu đen có trị giá còn lại 50.000 đồng. Tổng tài sản bị trộm cắp có trị giá 26.780.000 đồng (Hai mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
Hành vi trên của Ksor H’L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ph Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đ ng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 16/3/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 06 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 31/01/2019, bị cáo được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Ngày 16/7/2019, bị cáo chấp hành xong án phạt tù cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo không có sự tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội, điều này chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để gi p cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời qua đó răn đe và phòng ngừa loại tội phạm này tái diễn trên địa bàn.
Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Tuyết M đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 01 t i xách vải màu đen và số tiền 26.730.000 đồng không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xách nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô hãng Honda Wave RSX biển kiểm soát 81M1-098.26 màu đen xám, số máy JA38B0456041, số khung: 3826KY008018
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Ksor H’L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Ksor H’ L 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
2. Về vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Ksor H’L 01 xe mô tô hãng Honda Wave RSX biển kiểm soát 81M1-098.26 màu đen xám, số máy JA38B0456041, số khung: 3826KY008018
Tịch thu tiêu hủy 01 giỏ xách nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng.
Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Ph Thiện và Chi cục THADS huyện Ph Thiện
3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ksor H’L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/3/2022) bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án, người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND H. Ph Thiện; - VKSND tỉnh Gia Lai; - CQĐT Công an H. Ph Thiện; - CQ THA. HS Công an H. Ph Thiện; - Bị cáo và những người TGTT khác; - Lưu TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ksor H’Đuen |