vanban.org

Bản án 04/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 11/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh L (T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh L (T) 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 07/12/2018. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh L (T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 04/2019/HS-ST
Ngày 11- 01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

* Thành phần những người tiến hành tố tụng:

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung– Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2019, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm theo thủ tục rút gọn thụ lý số: 94/2018/TLST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST- HS, ngày 03 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Hoàng Thanh L; Tên gọi khác: T;

Sinh ngày 30/4/1997, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi phạm tội: t 2, buôn K N, xã C D, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: làm nông; Tiền sự: 01; Tiền án: 02. Họ và tên cha: Hoàng Phi Hổ, sinh năm 1964. Họ và tên mẹ: Võ Thị Thu Cúc, sinh năm 1970. Hiện ông bà đang sinh sống tại: tổ 2, buôn Ko Neh, xã Cuôr Đăng, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk

Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Nhân thân: Ngày 27/01/2016 bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, theo bản án số thẩm số 16/2016/HSST. Ngày 17/10/2016 bị Tòa án nhân dân huyện CưM’gar xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án sơ thẩm số 68/2016/HSST. Ngày 30/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện CưM’gar ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện. Ngày 07/12/2018 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại xã Cuôr Đăng, huyện CưMgar và bị bắt quả tang.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07 tháng 12 năm 2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư M’gar – Có mặt tại phiên tòa.

* Những người bị hại:

- Bà Bùi Thị B– vắng mặt

Trú tại: buôn C Đ A, xã CĐ, huyện CưMgar, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

Đại diện cho bà Bùi Thị B là ông Bùi Văn X – vắng mặt

Trú tại: buôn C Đ A, xã C Đ, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk

- Ông Dương Văn T – vắng mặt

Trú tại: t 14, TT E N, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Võ Thị Thu C – Có mặt.

Trú tại: b KN, xã CĐ, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ 00 phút ngày 07/12/2018, Hoàng Thanh L lợi dụng việc Công ty viễn thông Gmobile tháo ăng ten của trụ thu phát sóng đặt tại buôn Ko Neh, xã Cuôr Đăng, huyện CưMgar để ở dưới gầm nhà trạm để chờ vận chuyển đi bảo quản và không có người trông coi nên L đã chèo qua hàng rào của nhà mình qua trạm thu phát song viễn thông Gmobile lấy trộm 03 cái cùm gá ăng ten làm bằng kim loại sắt. Sau đó L sử dụng xe máy biển số 47N6 – 7241 chở số cùm trên đến bán tiệm phế liệu do bà Bùi Thị B làm chủ, nhưng chị B không mua vì không có hóa đơn thanh lý, sau đó L quay ra thì thấy có 01 chiếc cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg để gần cổng nên L lấy trộm chiếc cân trên bỏ lên xe máy và điều khiển xe bỏ đi thì bị người dân phát hiện đuổi theo bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số tang vật trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/ĐGTS, ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Cư M’gar đã kết luận: Giá trị tài sản trộm cắp là 871.000đ.

Về vật chứng của vụ án : Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk Lăk đã tạm giữ 03 cái cùm gá ăng ten làm bằng kim loại sắt. 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg; 01 xe máy biển số 47N6 – 7241. Ngày 18/12/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Cư Mgar trả lại 03 cái cùm gá ăng ten cho anh Dương Văn T là người quản lý tài sản trên; trả lại 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg cho bà Bùi Thị B và trả lại 01 xe máy biển số 47N6 – 7241 cho bà Võ Thị Thu C là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Dương Văn T và bà Bùi Thị B không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS, ngày 27 tháng 12 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã truy tố bị cáo Hoàng Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Thanh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Quyết định truy tố đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên Quyết định đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Thanh Luân, đồng thời đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

- Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh L: Mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/12/2018.

* Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar trả lại 03 cái cùm gá ăng ten cho anh Dương Văn T là người quản lý tài sản trên; trả lại 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg cho bà Bùi Thị B và trả lại 01 xe máy biển số 47N6 – 7241 cho bà Võ Thị Thu C là chủ sở hữu hợp pháp

- Về trách nhiệm dân sự : Những người bị hại ông Dương Văn T và bà Bùi Thị B không yêu cầu bồi thường về dân sự, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo; người có quyền lời, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến đối đáp, tranh luận gì.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Thanh L tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 6 giờ 00 phút ngày 7/12/2018, Hoàng Thanh L đã trộm cắp 03 cái cùm gá ăng ten của anh Dương Văn T và 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg của bà Bùi Thị B

Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.00 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm"

………….

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức, bị cáo phải biết được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm và bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đến tài sản của người khác đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, lười biếng lao động, vì ham muốn cá nhân nên vào khoảng 6 giờ 00 phút ngày 07/12/2018, Hoàng Thanh L đã trộm cắp 03 cái cùm gá ăng ten của Dương Văn T và 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg của bà Bùi Thị B. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra.

Xét về nhân thân, trước khi phạm tội bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội và phạm tội trộm cắp 2 lần cho nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng về hành vi tái phạm và phạm tội nhiều lần quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước.

Với tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar trả lại 03 cái cùm gá ăng ten cho anh Dương Văn T là người quản lý tài sản trên; trả lại 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg cho bà Bùi Thị B và trả lại 01 xe máy biển số 47N6 – 7241 cho bà Võ Thị Thu C là chủ sở hữu hợp pháp

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Dương Văn T và bà Bùi Thị B không yêu cầu bồi thường về dân sự, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh L (T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh L (T) 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 07/12/2018.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar trả lại 03 cái cùm gá ăng ten cho anh Dương Văn T là người quản lý tài sản trên; trả lại 01 cân nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg cho bà Bùi Thị B và trả lại 01 xe máy biển số 47N6 – 7241 cho bà Võ Thị Thu C là chủ sở hữu hợp pháp

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Thanh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ