- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tình cảm: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn với anh Lê Quang H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình xử
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28/03/2019 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Đống
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Chu Thành Vinh
2. Ông Lê Văn Luân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền – Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tham gia phiên toà:Bà Nguyễn Thị Tâm-Kiểm sát viên VKSND huyện Cẩm Xuyên.
Ngày 28tháng 03 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm C khaivụ án thụ lý số:11/2019/TLST- HNGĐ ngày21 tháng 01 năm 2019 về việc Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:06/2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 03 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1995 Trú tại: thôn 7, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, có mặt
2. Bị đơn: Anh Lê Quang H, sinh năm 1991 Trú quán: thôn 7, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn,bản tự khai ngày 21/01/2019 và tại phiên tòa chị Hoàng Thị C trình bày: Chị và anh Lê Quang H kết hôn với nhau vào ngày 10/12/2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, trên cơ sở tự nguyện và tự do tìm hiểu, vợ chồng có 01 con chung. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống với bố mẹ chồng tại thôn 7, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên. Tình cảm vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 5 nămthì phát sinh mâu thuẫn, do anh H không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên chơi bời, không lo làm ăn, cắm xe nhiều lần, từ đó vợ chồng xẩy ra cải vả, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn.Chị C và anh H sống ly thân từ tháng 10/2018 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ngày 26/12/2018 chị Hoàng Thị C làm đơn xin ly hôn với anh Lê Quang H.
Còn anh Lê Quang H mặc dù tại phiên tòa hôm nay anh không có mặt nhưng tại bản tự khai ngày 25/01/2019 và qua các lần hòa giải vào ngày 25/01/2019 và ngày 15/02/2019 anh cũng thống nhất về thời gian kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng như chị C trình bày, tuy nhiên về tình cảm anh không đồng ý ly hôn với chị C.
- Về con chung: Vợ chồng có 01con chung là cháu Lê Hoàng Ngọc L, sinh ngày 16/6/2014 hiện nay đang sống với anh H tại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên. Tại biên bản hòa giải ngày 25/01/2019 và ngày 15/02/2019 thì chị Hoàng Thị C và anh Lê Quang H thống nhất thỏa thuận về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con như sau: Giao con Lê Hoàng Ngọc L, sinh ngày 16/6/2014 cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục, chị Hoàng Thị C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ.
- Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Tại đơn trình bày ngày 26/12/2018 và bản tự khai ngày 21/01/2019 chị C trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản gì chung và cũng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng.
Anh Lê Quang H tại bản tự khai, biên bản hòa giải anh cũng thống nhất trình bày vợ chồng không tạo lập được tài sản gì chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tạiphiên toà, những người tiến hành tố tụng và chị Hoàng Thị C đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Riêng đối với bị đơn, anh Lê Quang H không chấp hành pháp luật, tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H không đến Tòa án làm việc. Điều này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm, không tôn trọng Tòa án, trốn tránh nghĩa vụ với nguyên đơn.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, Khoản 1 Điều 56, Điểu 57 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử: Chấp nhận cho chị Hoàng Thị C được ly hôn anh Lê Quang H; về con cái: C nhận sự thỏa thuận của các đương sự giao cháu Lê Hoàng Ngọc L, sinh ngày 16/6/2014 cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục chị C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ, kể từ khi án có H lực pháp luật đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi.Chị C được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở, ngăn cấm.
Về tài sản, về nợ: Trong thời gian chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu về đường lối giải quyết vụ án cũng như việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng.
. Về thẩm quyền: Chị Hoàng Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn đối với anh Lê Quang H, hiện tại chị C và anh H đều có hộ khẩu đăng ký thường trú tại thôn 7, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khỏan 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của chị Hoàng Thị C cùng với chứng cứ do chị C cung cấp thì chị Hoàng Thị C và anh Lê Quang H kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật đặng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên. Tuy nhiên sau một thời gian thì hai người phát sinh mâu thuẫn do anh Hkhông lo làm ăn, chơi bời dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày một rạn nứt, nay hai người đã sống ly thân chị C đã về bên bố mẹ đẻ sinh sống. Do đó mục đích hôn nhân không đạt được, chị C có nguyện vọng xin được ly hôn để giải phóng cho hai người. Trong biên bản hòa giải ngày 25/01/2019 và ngày 15/02/2019 anh H không đồng ý ly hôn vì cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn nhưng anh H không đưa ra được biện pháp gì đển níu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị C. Còn chị C thì chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị C vẫn nhất quyết ly hôn.
Vào ngày 28/02/2019 Tòa án triệu tập anh H đến làm việc nhưng anh H không đến Tòa đển làm việc, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Như vậy mục đích hôn nhân là xây dựng tổ ấm gia đình, sinh con và nuôi dạy con cái nên người, tạo lập kinh tế để duy trì và phát triển đời sống. Khi mâu thuẫn xẩy ra chị C đã cố gắng để phân tích sai đúng, khuyết điểm tồn tại của anh H để tìm giải pháp tốt nhất và nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Mà trái lại với bản tính cố chấp không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được nên chị C đã làm đơn xin ly hôn và tha thiết chấm dứt mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H là hoàn toàn phù hợp. Đối với anh H tuy không muốn ly hôn nhưng anh không đưa ra được biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy thực tế tình cảm vợ chồng tình cảm hai người đã thật sự tan vỡ, không thể hàn gắn được. Nghĩ cần áp dụng khoản 1 điều 51, điều 54, điều 56, điều 57Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn với anh Lê Quang H.
. Về con chung: Tại hồ sơ và trước phiên Tòa hôm nay chị Hoàng Thị C thống nhất trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung, quá trình hòa giải vợ chồng thống nhất thỏa thuận giao cháu Lê Hoàng Ngọc Linh, sinh ngày 16/6/2014 cho anh H trực tiếp chăm sóc nuỗi dưỡng. Chị Hoàng Thị C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng anh H mỗi tháng 1.000.000đ. Tại phiên tòa hôm nay chị C hoàn tòan thống nhất như thỏa thuận của vợ chồng, không có ý kiến gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận nguyện vọng của chị C là giao Lê Hoàng Ngọc Linh, sinh ngày 16/6/2014 cho anh Lê Quang H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Chấp nhận nguyện vọng của chị C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng anh H mỗi tháng 1.000.000đ. Chị C được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở, ngăn cấm.
. Về tài sản chung và nợ: Chị C và anh H trình bày thì vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và không ai nợ vợ chồng. Nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí: Chị Hoàng Thị C phải nộp 300.000 đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39;khoản 4 Điều 147, điều 177, điều 179, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 53, điều 56, điều 57, điều 58, điều 81, Điều 82, Điều 83,Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điểm a khoản 1 điều 24; Điểm a khoản 05; Điểm b khoản 6 điều 27Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1]. Về tình cảm: Xử cho chị Hoàng Thị C được ly hôn với anh Lê Quang H.
[2]. Về con cái: C nhận sự thỏa thuận của chị Hoàng Thị C và anh Lê Quang H giao cháu Lê Hoàng Ngọc L, sinh ngày 16/6/2014 cho anh Lê Quang H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục, chị Hoàng Thị C có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ.Chị Hoàng Thị C có quyền đi lại thăm nom,chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cấm.
[3]. Về án phí: Buộc chị Hoàng Thị C phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000741 ngày 21/01/2019 tại Chi cục thi hành án huyện Cẩm Xuyên. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị C đã nộp đủ.
Chị Hoàng Thị C có nghĩa vụ nộp 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Quyền kháng cáo bản án. Nguyên đơn chị Hoàng Thị C có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lê Quang H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKS huyện CX; - THA Cẩm xuyên; - UBND xã Cẩm Quan (để xóa tên trong Sổ ĐKKH số 90 ngày 10/12/2013); - Các đương sự; - Lưu HS, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Đống |