- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn T - phạm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (điều 226 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:04/2026/HSST Ngày 13/01/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Bình
2. Ông Đào Hoàng Anh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Thu Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 301/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa ra xét xử số 314/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Lương Văn T, sinh năm 1994 tại Lạng Sơn; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, tỉnh Lạng Sơn; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lương Văn T1; Họ tên mẹ: Hứa Thị D (đã chết); Bị cáo có vợ là Nông Thị V, sinh năm 1994; Có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn T: Bà Đinh Thị Phương M- Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước hành phố Hà Nội.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
1. Guccio Gucci S.P.A., địa chỉ tại: Via Tornabuoni G, 50123 F, Italy.
Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty TNHH T6, địa chỉ: Số nhà L, Dự án tổ hợp thương mại, dịch vụ và căn hộ C, phường H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị H. (Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Christian Dior C S.A., địa chỉ tại: C A, G P, F. Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty L4, địa chỉ: Tầng I, Tòa Nhà V, A H, phường N, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Thanh B. (Vắng mặt).
3. Hugo Boss AG, địa chỉ tại: H, 72555 M, Đức. Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty L5, địa chỉ: P, Tầng D, T, Tòa nhà C, 29 Phố L, phường N, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H1. (Vắng mặt).
4. The Polo/ Lauren Company L.P., địa chỉ tại: F M, N, Mỹ.
Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty L5, địa chỉ: P, Tầng D, T, Tòa nhà C, 29 Phố L, phường N, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Mạnh H1. (Vắng mặt).
5. D3 S.R.L., địa chỉ tại: V, A I M, Italy. Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty Cổ phần S1, địa chỉ: Tầng E, Tòa C, A T, phường Y, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tài L. (Vắng mặt).
6. Louis Vuitton Malletier SAS, địa chỉ tại: 2 Rue du P3, 75001 P, F.
Đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền: Công ty TNHH S2.IP, địa chỉ: tầng A, số F L, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H2 – Giám đốc. (Vắng mặt).
7. Burberry Limited, địa chỉ tại: H, H, London SW1P 2AW, England.
Đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền: Công ty TNHH T7, địa chỉ: Lầu F, Mê Linh P, số B N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Thanh H3 – Giám đốc.(Vắng mặt).
8. Prada S.A., địa chỉ tại: 23, rue A, L, Luxembourg. Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty L6, địa chỉ: P, tầng A, tòa nhà D, 8 H, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Hồng Y. (Vắng mặt).
9. Adidas AG, địa chỉ tại: H, B, G. Đại diện tại Việt Nam: Công ty L7, địa chỉ: Số H T, phường C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Vũ Khánh T2. (Vắng mặt).
10. Balenciaga S.A., địa chỉ tại: P, F. Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty TNHH T6, địa chỉ: Số nhà L, Dự án tổ hợp thương mại, dịch vụ và căn hộ C, phường H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị H. (Vắng mặt).
11. Moncler S.P.A., địa chỉ tại: Via S, I, M, Italy. Đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam: Công ty TNHH T6, địa chỉ: Số nhà L, Dự án tổ hợp thương mại, dịch vụ và căn hộ C, phường H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị H. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/8/2025, Công an xã P - Công an hành phố Hà Nội phối hợp với Đội Quản lý thị trường số H4 - Cục quản lý thị trường hành phố Hà Nội kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động kinh doanh đối với Cơ sở kinh doanh tại địa chỉ: Lô C, xã P, thành phố Hà Nội đối với hộ kinh doanh “Tiến QA Nam” do Lương Văn T - sinh năm: 1994, trú tại: T, K, Lạng Sơn làm chủ hộ kinh doanh. Qua kiểm tra, T xuất trình được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mã số 01J8032384 đăng ký lần đầu ngày 19/6/2025 do Phòng Tài chính Kế hoạch, UBND huyện G cấp có địa chỉ trụ sở chính tại: Lô C Cụm C, xã N, G, Hà Nội (nay là Lô C Cụm C, P, Hà Nội), tuy nhiên cơ sở kinh doanh không niêm yết giá hàng hóa bằng một trong các hình thức theo quy định của pháp luật. Cơ quan Công an đã thu giữ tổng số 5.038 sản phẩm quần áo nam các loại có dấu hiệu giả mạo các nhãn hiệu Gucci, Christian D1, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 đang được bảo hộ tại Việt Nam gồm:
1. Quần bò nam mang nhãn hiệu Polo, số lượng: 35 chiếc
2. Áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton, số lượng: 275 chiếc
3. Quần bò nam mang nhãn hiệu D&G, số lượng: 165 chiếc
4. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Gucci, số lượng: 223 chiếc
5. Áo khoác nam mang nhãn hiệu D&G, số lượng: 20 chiếc
6. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Balenciaga, số lượng: 18 chiếc
7. Quần bò nam mang nhãn hiệu Gucci, số lượng: 95 chiếc
8. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Adidas, số lượng: 220 chiếc
9. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Moncler, số lượng: 15 chiếc
10. Áo phông nam mang nhãn hiệu Christian Dior, số lượng: 235 chiếc
11. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Prada, số lượng: 492 chiếc
12. Quần bò nam mang nhãn hiệu BOSS, số lượng: 25 chiếc
13. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton, số lượng: 445 chiếc
14. Quần bò nam mang nhãn hiệu Balenciaga, số lượng: 40 chiếc
15. Áo phông nam mang nhãn hiệu Buberry, số lượng: 578 chiếc
16. Áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Christian Dior, số lượng: 375 chiếc
17. Áo phông nam mang nhãn hiệu Gucci, số lượng: 17 chiếc
18. Áo phông nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton, số lượng: 440 chiếc
19. Áo phông nam mang nhãn hiệu D&G, số lượng: 40 chiếc
20. Áo phông nam mang nhãn hiệu Prada, số lượng: 120 chiếc
21. Áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Burberry, số lượng: 210 chiếc
22. Áo sơ mi nam mang nhãn hiệu D&G, số lượng: 20 chiếc
23. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Christian Dior, số lượng: 600 chiếc
24. Áo khoác nam mang nhãn hiệu Burberry, số lượng: 125 chiếc
25. Quần bò nam mang nhãn hiệu Christian Dior, số lượng: 210 chiếc
Ngày 22/10/2025, Cơ quan CSĐT - Công an hành phố Hà Nội tiến hành khám xét tại chỗ ở của Lương Văn T tại thôn T, xã K, Lạng Sơn và nơi làm việc tại A11 Lô 02-2-1 cụm C, xã P, Hà Nội. Quá trình khám xét không thu giữ, đồ vật tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Đại diện các thương hiệu G1, Christian D1, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 được ủy quyền tại Việt Nam gồm: Công ty TNHH S2.IP (là đại diện thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo ủy quyền của nhãn hiệu Louis Vuitton); Công ty TNHH T7 (là đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của nhãn hiệu Burberry); Công ty L4 (là đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của nhãn hiệu Christian Dior); Công ty Cổ phần S1 (là đại diện sở hữu Công nghiệp theo ủy quyền của nhãn hiệu D&G - D3); Công ty L8 (là đại diện thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo ủy quyền của nhãn hiệu Adidas); Công ty L5 (là đại diện thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo ủy quyền của nhãn hiệu Polo và nhãn hiệu Boss); Công ty TNHH T6 (là đại diện sở hữu công nghiệp để thực thi và bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ của nhãn hiệu Gucci; nhãn hiệu Balenciaga và nhãn hiệu Moncler); Công ty L6 (là đại diện theo ủy quyền thực thi quyền sở hữu trí tuệ của nhãn hiệu Prada). Các Công ty đại diện cho các thương hiệu trên khẳng định toàn bộ số hàng hóa thu giữ tại ki-ốt của Lương Văn T có gắn các thương hiệu Gucci, Christian D1, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 nêu trên không phải là hàng hóa của các thương hiệu (đã đăng ký tại Cục sở hữu trí tuệ) sản xuất, phân phối hoặc cho phép sản xuất, phân phối dưới bất cứ hình thức nào tại T8; Lương Văn T không phải là đối tượng được ủy quyền, phân phối, kinh doanh các sản phẩm mang nhãn hiệu trên tại Việt Nam.
Tại Bản kết luận giám định sở hữu công nghiệp số: NH567-25TC.TP/KLGĐ của Viện sở hữu trí tuệ quốc gia đã kết luận:
1. Sản phẩm quần bò nam gắn dấu hiệu “Hình” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần bò thuộc nhóm 25 theo GCNĐKNH số 80408 của The P, L1. (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
2. Sản phẩm áo sơ mi nam gắn dấu hiệu “Louis VUITTON” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 416052 của LOUIS VUITTON MALLETIER (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
3. Sản phẩm quần bò nam gắn dấu hiệu “D&G” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 652614 của D3.r.l (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
4. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “G và Hình” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc nhóm 25 theo ĐKQT số 1307272 của G1 (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
5. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “D&G DOLCE&GABBANA” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 652614 của D3.r.l (theo Điều 213.2 Luật SHTT);
6. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “BALENCIAGA” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 397506 của BALENCIAGA (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
7. Sản phẩm quần bò nam gắn dấu hiệu “G và Hình” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 1241685 của Guccio G.p.A (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
8. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “adidas” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 487580 của Adidas A.G (theo Điều 213.2 Luật SHTT)
9. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “MONCLER và hình” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 504071 của MONCLER S.P.A (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
10. Sản phẩm áo phông nam gắn dấu hiệu “Christian Dior” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 313175 của CHRISTIAN DIOR COUTURE, société anonyme (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
11. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “PRADA và hình” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 662397 của PRADA S.A. (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
12. Sản phẩm quần bò nam gắn dấu hiệu “BOSS” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 456092 của HUGO BOSS AG (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
13. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “LOUIS VUITTON” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 1127685 của LOUIS VUITTON MALLETIER (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
14. Sản phẩm quần bò nam gắn dấu hiệu “BALENCIAGA” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 397506 của BALENCIAGA (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
15. Sản phẩm áo phông nam gắn dấu hiệu “BURBERRY” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo phông polo thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 39995 của BURBERRY LIMITED (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
16. Sản phẩm áo sơ mi nam gắn dấu hiệu “DIOR” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 313176 của CHRISTIAN DIOR COUTURE, société anonyme (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
17. Sản phẩm áo phông nam gắn dấu hiệu “GUCCI” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 17537 của GUCCIO GUCCI S.P.A, société anonyme (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
18. Sản phẩm áo phông nam gắn dấu hiệu “LV” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 447981 của LOUIS VUITTON MALLETIER (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
19. Sản phẩm áo phông nam gắn dấu hiệu “DOLCE&GABBANA” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 625152 của D3.r.l (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
20. Sản phẩm áo phông nam gắn dấu hiệu “PRADA và hình” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc nhóm 25 theo ĐKQT số 662397 của PRADA S.A (Quy định tại Điều 213.2 Luật SHTT).
21. Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu “BURBERRY” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo thường phục thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 39995 của BURBERRY LIMITED (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
22. Không đủ căn cứ để khẳng định rằng: Sản phẩm áo sơ mi gắn dấu hiệu “DG” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 652614 của D4.r.l (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
23. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “CHRISTIAN DIOIO” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 134476 của CHRISTIAN DIOR COUTURE, société anonyme, (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
24. Sản phẩm áo khoác nam gắn dấu hiệu “BURBERRY” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm áo khoác ngoài thuộc Nhóm 25 theo GCNĐKNH số 39995 của BURBERRY LIMITED (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
25. Sản phẩm quần bò nam gắn dấu hiệu “DIOR” là hàng hoá giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm quần áo thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 313176 của CHRISTIAN DIOR COUTURE, société anonyme (theo Điều 213.2 Luật SHTT).
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS xã P kết luận: 95 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Gucci có giá 6.650.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 210 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 14.700.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 25 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu BOSS giá 1.750.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 165 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu D&G giá 11.550.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 35 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu POLO giá 2.450.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 40 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu BALENCIAGA giá 2.800.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 600 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 60.000.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 445 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton giá 44.500.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 125 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Burberry giá 12.500.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 492 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Prada giá 49.200.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 220 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Adidas giá 22.000.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 223 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Gucci giá 22.300.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 15 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Moncler giá 1.500.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 20 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu D&G giá 2.000.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 18 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu BALENCIAGA giá 1.800.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 235 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 15.275.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 578 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Burberry giá 37.570.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 40 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu D&G giá 2.600.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 17 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Gucci giá 1.105.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 440 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton giá 28.600.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 120 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Prada giá 7.800.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 275 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton giá 19.250.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 275 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 26.250.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 210 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Burberry giá 14.700.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 20 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu D&G giá 1.400.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc). Tổng cộng có 5.038 sản phẩm quần áo nam mang các nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 của Đội Quản lý thị trường số H4 tại thời điểm tháng 8/2025 là 410.250.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn).
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lương Văn T khai nhận: Ngày 30/6/2025, Lương Văn T thuê ki-ốt tại Lô B, xã P, thành phố Hà Nội của Công ty TNHH T9 do ông Nhữ Đình T3 là Giám đốc (có hợp đồng thuê) để kinh doanh các mặt hàng liên quan đến thời trang quần áo, thời hạn thuê 6 tháng từ ngày 01/7/2025 đến ngày 31/12/2025 với giá thuê ki-ốt là 8.000.000 đồng/ tháng, T đã trả toàn bộ số tiền 48.000.000 đồng tiền thuê ki-ốt. Trong quá trình kinh doanh, buôn bán, khoảng đầu tháng 7/2025, T tìm hiểu và liên hệ qua mạng xã hội với những người không rõ nhân thân để mua tổng số 5.038 sản phẩm quần áo nam giả mạo các nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 đang được bảo hộ tại Việt Nam gồm: 35 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Polo; 275 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton; 165 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu D&G; 223 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Gucci; 20 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu D&G; 18 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Balenciaga; 95 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Gucci; 220 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Adidas; 15 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Moncler; 235 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Christian Dior; 492 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Prada; 25 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu BOSS; 445 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton; 40 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Balenciaga; 578 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Buberry; 375 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Christian Dior; 17 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Gucci; 440 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton; 40 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu D&G; 120 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Prada; 210 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Burberry; 20 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu D&G; 600 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Christian Dior; 125 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Burberry; 210 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Christian Dior: với giá từ 60.000 đồng - 80.000 đồng/01 sản phẩm, với tổng số tiền khoảng 352.000.000 đồng, mục đích để bán cho khách kiếm lời với giá từ 80.000 đồng - 100.000 đồng/01 sản phẩm, tương đương tổng số tiền khoảng 453.000.000 đồng, dự kiến thu lời khoảng 101.000.000 đồng.
Ngày 22/8/2025, T đang cất giữ toàn bộ số hàng hóa trên, chưa kịp bán thì bị Công an xã P - Công an hành phố Hà Nội phối hợp với Đội Quản lý thị trường số H4 - Cục quản lý thị trường hành phố Hà Nội kiểm tra, phát hiện, thu giữ các vật chứng như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi của Lương Văn T kinh doanh không niêm yết giá hàng hóa theo quy định, Cơ quan CSĐT - Công an hành phố Hà Nội đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu số C14462 ngày 01/12/2025 đến Chi cục Quản lý thị trường hành phố Hà Nội (Đội Quản lý thị trường số H4) để xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với anh Nhữ Đình T3 là người cho Lương Văn T thuê ki-ốt tại địa chỉ: Lô C, xã P, thành phố Hà Nội. Anh T3 không biết T thuê ki-ốt để chứa hàng hóa giả mạo các nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, Moncler nên Cơ quan CSĐT - Công an hành phố Hà Nội không xem xét xử lý.
Đối với các đối tượng đã bán 5.038 sản phẩm quần áo nam giả mạo các nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1, do không rõ nhân thân nên Cơ quan CSĐT - Công an hành phố Hà Nội không có căn cứ xử lý.
Ngày 03/11/2025, Công ty L5 (là đại diện theo ủy quyền của nhãn hiệu Boss và P2) có văn bản xác nhận Lương Văn T đã bồi thường thiệt hại cho Công ty H5 số tiền 15.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho Công ty P4 số tiền 15.000.000 đồng, Công ty L5 không có ý kiến gì khác (BL số 531, 533).
Ngày 25/4/2025, Công ty L4 (là đại diện sở hữu trí tuệ của Christian Dior) đã được bị cáo Lương Văn T đã bồi thường thiệt hại số tiền 15.000.000 đồng, Công ty L4 không có ý kiến gì khác (BL số 574).
Công ty TNHH S2.IP (là đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của Louis Vuitton); Công ty Cổ phần S1 (là đại diện theo ủy quyền của nhãn hiệu D&G - D3); Công ty L6 (là đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của P1), Công ty T6 (là đại diện sở hữu công nghiệp thực thi quyền sở hữu trí tuệ của G, B3 và M1) không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự (BL số 383-384, 512, 541, 548).
Công ty TNHH T7 (là đại diện sở hữu công nghiệp theo ủy quyền của B2) yêu cầu bị cáo Lương Văn T bồi thường tinh thần số tiền 50.000.000 đồng (BL số 396, 397).
Đối với 5.038 sản phẩm là quần áo nam giả mạo các nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1, Cơ quan điều tra đã trích mẫu 25 sản phẩm (mỗi loại 1 sản phẩm), còn lại 5.013 sản phẩm, Cơ quan CSĐT - Công an hành phố Hà Nội đã thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 81/CT-VKSKV5 ngày 24 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Hà Nội truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Lương Văn T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 1 Điều 226; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự
* Đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.
* Đề nghị:
- Xử phạt bị cáo Lương Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
- Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để cho tịch thu tiêu hủy: 5013 sản phẩm hàng hoá không có hoá đơn chứng từ kèm theo có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 đang được bảo hộ tại Việt Nam được niêm phong trong 41 (bốn mươi mốt) bao tải.
- Về trách nhiệm dân sự: Đến nay, bị cáo Lương Văn T đã bồi thường thiệt hại cho các công ty đại diện 3 nhãn hiệu gồm Công ty L5 (là đại diện theo ủy quyền của nhãn hiệu Boss và P2); Công ty L4 (là đại diện sở hữu trí tuệ của Christian D1) tổng số tiền 45.000.000 đồng. Đối với các công ty đại diện các nhãn hiệu khác không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.
* Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn T: Hoàn toàn nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét căn cứ việc bị cáo Lương Văn T là người dân tộc thiểu số ở nơi có điều kiện kinh tế và xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nhân thân tốt, gia đình bị cáo là hộ nghèo. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đồng thời, tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội cải tạo, giúp ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần Tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an hành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định:
Mặc dù không được sự đồng ý của các Công ty sở hữu trí tuệ về việc sản xuất, kinh doanh hàng hóa mang thương hiệu Gucci, Christian D1, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 đã được bảo hộ tại Việt Nam nhưng bị cáo Lương Văn T đã kinh doanh bán quần áo giả mạo nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 mà biết rõ đây là các nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam để thu lời bất chính. Ngày 22/8/2025, khi bị cáo Lương Văn T đang cất giữ: 95 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Gucci có giá 6.650.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 210 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 14.700.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 25 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu BOSS giá 1.750.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 165 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu D&G giá 11.550.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 35 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu POLO giá 2.450.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 40 chiếc quần bò nam mang nhãn hiệu BALENCIAGA giá 2.800.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 600 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 60.000.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 445 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton giá 44.500.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 125 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Burberry giá 12.500.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 492 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Prada giá 49.200.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 220 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Adidas giá 22.000.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 223 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Gucci giá 22.300.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 15 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu Moncler giá 1.500.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 20 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu D&G giá 2.000.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 18 chiếc áo khoác nam mang nhãn hiệu BALENCIAGA giá 1.800.000 đồng (100.000 đồng/ chiếc); 235 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 15.275.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 578 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Burberry giá 37.570.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 40 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu D&G giá 2.600.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 17 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Gucci giá 1.105.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 440 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton giá 28.600.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 120 chiếc áo phông nam mang nhãn hiệu Prada giá 7.800.000 đồng (65.000 đồng/ chiếc); 275 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Louis Vuitton giá 19.250.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 275 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Christian Dior giá 26.250.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 210 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu Burberry giá 14.700.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc); 20 chiếc áo sơ mi nam mang nhãn hiệu D&G giá 1.400.000 đồng (70.000 đồng/ chiếc). Tổng số 5.038 sản phẩm là quần áo nam giả mạo các nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 trị giá 410.250.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị Công an xã P - Công an hành phố Hà Nội phối hợp với Đội Quản lý thị trường số H4 - Cục quản lý thị trường hành phố Hà Nội kiểm tra, thu giữ cùng vật chứng.
Vì vậy, hành vi của bị cáo Lương Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự.
Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
“1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
…
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Hà Nội tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi sử dụng, khai thác trái phép các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ (như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh) mà không có sự cho phép của chủ sở hữu, nhằm mục đích thu lợi bất chính, gây thiệt hại kinh tế, gây mất uy tín và ảnh hưởng đến danh tiếng của nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, do vậy cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại. Bị cáo người dân tộc thiểu số ở nơi có điều kiện kinh tế và xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có nhân thân tốt, gia đình bị cáo là hộ nghèonên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lương Văn T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và cho bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng, làm ăn lương thiện. Đồng thời, do bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lương Văn T đã bồi thường thiệt hại cho các công ty đại diện 3 nhãn hiệu gồm Công ty L5 (là đại diện theo ủy quyền của nhãn hiệu Boss và P2); Công ty L4 (là đại diện sở hữu trí tuệ của Christian D1) tổng số tiền 45.000.000 đồng. Đối với các công ty đại diện các nhãn hiệu khác không có yêu cầu bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Đối với 5013 sản phẩm hàng hoá không có hoá đơn chứng từ kèm theo có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 đang được bảo hộ tại Việt Nam được niêm phong trong 41 (bốn mươi mốt) bao tải, xác định có liên quan đến hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, là hộ nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 226; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kèm theo Danh mục án phí, lệ phí tòa án.
[1]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn T 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND xã K, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục người đó.
[2]. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo
[3] Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lương Văn T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[5]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 5013 sản phẩm hàng hoá không có hoá đơn chứng từ kèm theo có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu Gucci, C, B1, D2, Louis V1, B2, P1, P2, A, B3, M1 đang được bảo hộ tại Việt Nam được niêm phong trong 41(Bốn mươi mốt) bao tải. Theo Biên bản giao vật chứng ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 5- Hà Nội.
[6]. Về án phí: Miễn nộp án án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội - VKSND khu vực 5- Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội; - Phòng THADS khu vực 5- Hà Nội; - Sở tư pháp Hà Nội; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã K, tỉnh Lạng Sơn; - Lưu: HS; THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cồ Khắc Đam |