vanban.org

Bản án 04/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo K’A, K’C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã được sửa đổi 2024, 2025 tuyên lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận diễn biến vụ việc; tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 97cm, phần lưỡi dao bằng sắt có đầu cong vào dài 27cm, phần cán dao bằng tre dài 70cm, đường… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo K’A, K’C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HSST
Ngày: 16/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - B

J phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tài.

2. Bà Trần Thị Quế.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trung - Cán bộ Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Kiểm sát viên.

Vào ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh B cũ số 08 Nguyễn Tất J, thôn 8 Lộc Thắng, xã Bảo Lâm 1, tỉnh B xét xử lưu động, công khai sơ thẩm theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 99/2025/TLST-HS ngày 13/11/2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: K’A; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày 02/02/2007 tại B; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn 15, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cơ Ho; Tôn giáo: Tin Lành; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông: K’AA sinh năm 1989, Con bà: Ka BB sinh năm 1991.

- Tiền án: Không;

- Tiền sự:

+ Quyết định số 134/QĐ-XPTT ngày 15/9/2022 của UBND xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, trị trấn đối với K’A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 30/12/2022 chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trên. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

+ Quyết định số 08/2023/QĐ-TA ngày 24/4/2023 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với K’A. Ngày 10/11/2023, K’A chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

- Nhân thân:

+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 147/QĐ-XPHC ngày 07/11/2022 của Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh B xử phạt K’A hình thức cảnh cáo về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.

+ Quyết định số 05/2025/QĐ-TA ngày 12/02/2025 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với K’A. Ngày 30/7/2025, Cơ sở cai nghiện ma túy số 1–Phòng CSĐTTP về ma túy – Công an tỉnh B ban hành Quyết định tạm đình chỉ Y hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Bị cáo đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Bảo Lâm (Cơ sở 2) - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh B kể từ ngày 30/7/2025 đến nay.

2. Họ và tên: K’C; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày 02/09/2008 tại B; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn 15, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cơ Ho; Tôn giáo: Tin Lành; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Con ông: K’CD sinh năm 1993 (đã chết), Con bà: Ka E sinh năm 1989.

- Tiền án: Không;

- Tiền sự: Không;

- Nhân thân:

+ Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh B xử phạt K’C 60 tháng tù về tội Cướp tài sản quy định tại khoản 2 Điều 168 BLHS.

Bị cáo đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Bảo Lâm (Cơ sở 2) - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh B kể từ ngày 21/8/2025 đến nay.

“Bị cáo có mặt tại phiên tòa”.

* Người bào chữa cho bị cáo K’A và bị cáo K’C: ông Vũ Cát D. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.

* Đại diện hợp pháp của bị cáo K’C : Bà Ka E, sinh năm 1989. Địa chỉ:Thôn 15, xã Bảo Lâm 3, tỉnh B

* Người bị hại:

1. Anh K’Du Anh F, sinh ngày 20/6/2008. Địa chỉ Thôn Tà Ngào, xã Bảo Lâm 3, tỉnh B. “Có mặt”

* Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông K’G, Bà Ka H sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Tà Ngào, xã Bảo Lâm 3, tỉnh B. “Ông G vắng mặt, bà H có mặt”.

2. Anh Hoàng Nhật Y, sinh ngày 07/3/2008. Địa chỉ: Thôn Tà Ngào, xã Bảo Lâm 3, tỉnh B

* Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Hoàng Văn J sinh năm 1980, bà Trương Thị K. Địa chỉ: Thôn Tà Ngào, xã Bảo Lâm 3, tỉnh B. “Ông J, bà K có mặt”.

3. Anh Hoàng Quốc L, sinh ngày 16/01/2008. Địa chỉ: Thôn Tà Ngào, xã Bảo Lâm 3, tỉnh B

* Đại diện hợp pháp của bị hại: Hoàng Văn M, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Tà Ngào, xã Bảo Lâm 3, tỉnh B. “Có mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

“Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau”:

Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, K’C mang theo 01 (một) con dao dài 94cm (chín mươi tư centimet) điều khiển xe mô tô chở K’A đi từ thôn 15, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B (nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B) đến trung tâm phường 1 Bảo Lộc, tỉnh B để mua card nạp game. Khi đi đến khu vực ngã ba Đại Bình thuộc phường Lộc Sơn, Tp. Bảo Lộc, tỉnh B (nay là phường B’Lao, tỉnh B) thì K’A và K’C gặp Hoàng Quốc L sinh ngày 16/01/2008, thường trú tại thôn Tà Ngào, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, Hoàng Nhật Y sinh ngày 07/3/2008, thường trú tại thôn Tà Ngào, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B (nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B), K’Du Anh F sinh ngày 20/6/2008, thường trú tại thôn Tà Ngào, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B (nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B) đi trên 01 xe mô tô biển số 49H1-202.32 cùng 13 người khác điều khiển 08 xe mô tô đang lưu thông trên đường. Vì cho rằng nhóm của Hoàng Quốc L nhìn liếc đểu mình và điều khiển xe với tốc độ nhanh nên K’A và K’C bực tức nảy sinh ý định đuổi đánh nhóm của L. Thực hiện ý định trên, K’A và K’C đi lấy 01 (một) con dao dài 97cm (chín mươi bảy centimet) để sẵn trong bụi cây ở khu vực đường tránh thuộc phường Lộc Sơn, Tp. Bảo Lộc, tỉnh B (nay là phường B’Lao, tỉnh B) rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nhóm của L. Khi đi đến khu vực cổng chào Bảo Lộc thì K’A và K’C gặp nhóm của L đang di chuyển theo hướng Bảo Lộc – Đà Lạt nên đuổi theo. K’A và K’C điều khiển xe mô tô đuổi theo xe mô tô biển số 49H1-202.32 của K’Du Anh F, Hoàng Quốc L và Hoàng Nhật Y, lúc này L phát hiện bị xe của K’A và K’C đuổi theo và cầm theo dao nên tăng tốc độ bỏ chạy. Khi đi đến khu vực trước số nhà 505B Trần Phú, phường Lộc Sơn, Tp. Bảo Lộc, tỉnh B (nay là phường B’Lao, tỉnh B) thì K’A và K’C áp sát xe mô tô của K’Du Anh F, Hoàng Quốc L và Hoàng Nhật Y, sau đó K’A đứng lên gác để chân của xe mô tô rồi dùng hai tay lật ngược sống dao chém 01 (một) nhát theo phương chéo, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải hướng đến mặt ngoài đùi chân trái của Hoàng Nhật Y. Lúc này Y co chân trái lên cao, đồng thời nghiêng người sang bên phải và dùng tay phải kéo vai phải của K’Du Anh F sang bên phải để tránh né nên không trúng. Ngay sau đó, K’A ngồi xuống yên xe rồi dùng chân phải đạp 01 (một) cái trúng bên trái đuôi xe mô tô do Hoàng Quốc L điều khiển khiến xe mô tô của L bị mất lái lao lên vỉa hè bên phải đường và đâm thẳng vào cột điện trên vỉa hè. K’A và K’C bỏ chạy theo hướng về thôn 15, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B (nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B), K’A vứt 01 (một) con dao ở khu vực đất trống ở gần nhà số 380 Trần Hưng Đạo, phường Lộc Sơn, Tp. Bảo Lộc, tỉnh B (nay là phường B’Lao, tỉnh B) còn K’C mang 01 (một) con dao về nhà ở thôn 15, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B (nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B).

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 746 ngày 13/12/2024 của Trung tâm pháp y xác định: Hoàng Nhật Y bị sẹo mổ đùi trái kích thước lớn, sẹo dẫn lưu đùi trái kích thước nhỏ, gãy 1/3 dưới xương đùi trái, tụ máu dưới màng cứng trán trái, tụ máu ngoài màng cứng trán trái, nứt xương trán trái, gãy J ngoài hốc mắt, cung gò má, gãy J xoang hàm, xoang bướm trái, gãy mỏm chân bướm trái, nứt xương đá phải, sẹo mi trên mắt trái kích thước nhỏ, gãy xương hàm dưới trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 59%, tổn thương do va đập.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 744 ngày 13/12/2024 của Trung tâm pháp y xác định: Hoàng Quốc L bị sẹo bụng trái kích thước lớn, thay đổi sắc tố da đùi trái, sẹo ngón II trùng với vết mổ kích thước trung bình, dập lách độ III điều trị bảo tồn (điều trị nội khoa), gãy xương đốt I ngón II tay trái gây cứng khớp, sẹo cẳng chân phải kích thước trung bình, gãy 1/3 dưới hai xương cẳng chân phải, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 32%, tổn thương do va đập.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 745 ngày 13/12/2024 của Trung tâm pháp y xác định: K’Du Anh F bị sẹo mổ 1/3 dưới mặt trước cẳng tay trái kích thước lớn, sẹo 1/3 trên mặt sau cẳng chân trái kích thước trung bình, gãy 1/3 dưới hai xương cẳng tay trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%, tổn thương do va đập.

Tại bản Kết luận giám định số 1324 ngày 10/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B xác định: không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 49H1-202.32 với phương tiện tham gia giao thông khác; vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông xe mô tô biển số 49H1-202.32 lưu thông theo hướng từ Tp. Hồ Chí Minh về Tp. Đà Lạt; không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển số 49H1-202.32 ngay trước khi xảy ra vụ TNGT; không phát hiện thấy vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49H1-202.32 với phương tiện tham gia giao thông khác.

Tại bản Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 3181 ngày 31/5/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ công an tại Tp. Hồ Chí Minh xác định: qua quá trình khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định (tháng 5/2024) K’C có độ tuổi từ 16 năm 09 tháng đến 17 năm 03 tháng

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ và trả lại cho chủ sở hữu là ông Hoàng Văn M sinh năm 1982, cư trú tại thôn Tà Ngào, xã Lộc J, huyện Bảo Lâm, tỉnh B (nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh B) 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki loại Viva biển số 49H1-202.32. Hiện còn đang thu giữ 01 USB ghi nhận diễn biến vụ việc; 01 con dao dài 97cm, phần lưỡi dao bằng sắt có đầu cong vào dài 27cm, phần cán dao bằng tre dài 70cm, đường kính 03cm của K’A sử dụng; 01 con dao dài 94cm phần lưỡi dao làm bằng sắt có đầu cong dài 28cm, phần cán dao làm bằng tre có chiều dài 66cm của K’C sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hoàng Quốc L, Hoàng Nhật Y, K’Du Anh F và đại diện gia đình không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Bản cáo trạng số 26/CT-VKSBL ngày 06/11/2025 truy tố bị cáo K’A, K’C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố tại bản cáo trạng số và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo bị cáo K’A, K’C về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; các Điều 12, 115, 119 Luật tư pháp người chưa J niên đề nghị xử phạt: Bị cáo K’ A 7 đến 8 năm tù, bị cáo K’C từ 7 đến 8 năm tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 tổng hợp hình phạt của bị cáo K’C của bản án này với hình phạt còn lại chưa chấp hành của Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh B. Buộc bị cáo K’C chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu nên không đề cập đến.

+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã được sửa đổi 2024, 2025 tuyên lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận diễn biến vụ việc; tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 97cm, phần lưỡi dao bằng sắt có đầu cong vào dài 27cm, phần cán dao bằng tre dài 70cm, đường kính 03cm của K’A sử dụng; 01 con dao dài 94cm phần lưỡi dao làm bằng sắt có đầu cong dài 28cm, phần cán dao làm bằng tre có chiều dài 66cm của K’C sử dụng.

+ Về án phí: Bị cáo sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn nên căn cứ vào điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Người bào chữa cho rằng mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo là cao; bị cáo học thức thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-TANDTC ngày 30/9/2025 giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm; đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 để xử các bị cáo.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, khiếu nại gì hay tranh luận gì; thống nhất bào chữa và không bào chữa gì thêm.

- Người bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại: không thắc mắc, khiếu nại gì hay tranh luận gì; không yêu cầu các bị cáo bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và đại diện hợp pháp của họ, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Quá trình điều tra cung như tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có căn cứ xác định: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 03/9/2024, bị cáo K’C điều khiển xe mô tô chở bị cáo K’A mang theo dao đi đến trung tâm Tp. Bảo Lộc, tỉnh B nay là phường 1 Bảo Lộc, tỉnh Bthì gặp nhóm của anh Hoàng Quốc L, Hoàng Nhật Y và K’Du Anh F đang đi ngược chiều. Do nghĩ rằng nhóm của Hoàng Quốc L liếc nhìn đểu nên K’C và K’A quay xe mô tô lại đuổi chém nhóm của Hoàng Quốc L. Khi đuổi kịp đến khu vực trước số nhà 505B Trần Phú, phường Lộc Sơn, Tp. Bảo Lộc, tỉnh B nay là phường B’Lao, tỉnh B. Bị cáo K’C và K’A đã thực hiện hành vi áp sát xe mô tô của anh Hoàng Quốc L, Hoàng Nhật Y và K’Du Anh F, sau đó bị cáo K’A lật ngược sống dao chém 01 nhát hướng vào mặt ngoài bên chân trái của anh Hoàng Nhật Y nhưng không trúng, bị cáo K’A tiếp tục dùng chân đạp 01 (một) cái vào bên trái đuôi xe mô tô của anh L, Y và K’Du Anh F khiến xe mô tô bị mất lái lao lên vỉa hè tông vào cột điện dẫn đến hậu quả: anh Hoàng Nhật Y bị thương tích 59%, Hoàng Quốc L bị thương tích 32% và K’Du Anh F bị thương tích 17% .

Hành vi nêu trên của bị cáo K’A và K’C đã phạm tội vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4, tỉnh B truy tố bị cáo tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, L tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, tính mạng người bị hại được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là vi phạm pháp luật hình sự. Đối với hành vi này phải được nghiêm trị trước pháp luật, cần áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm, đủ để để răn đe, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Vai trò của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025. Bị cáo K’A giữ vai trò là người khởi xướng, cầm đầu, thực hành tích cực; bị cáo K’C giữ vai trò giúp sức tích cực. Do đó, mức hình phạt của bị cáo K’A cao hơn bị cáo K’C.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo J khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; người bị hại và đại diện hợp pháp của họ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

- Về nhân thân:

+ Bị cáo K’A có 02 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã phường, thị trấn; bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc và có nhân thân xấu bị xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, bị áp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc.

+ Bị cáo K’C có nhân thân xấu thể hiện qua việc năm 2024, bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh B xử phạt 60 tháng tù về tội Cướp tài sản.

Quyết định hình phạt: Khi phạm tội các bị cáo chưa đủ 18 tuổi, học thức thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Tuy nhiên, giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn gì, các bị cáo vì lý do vô cớ đã dùng dao chém , dùng chân đạp xe của người bị hại gây thương tích là thể hiện tính côn đồ và thái độ coi thường pháp luật. Bản thân các bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật. Do đó, cần phải xử các bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài đủ răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo K’C đã chấp hành Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh B còn 03 năm 9 tháng 28 ngày tính đến ngày 16/01/2026. Do đó, áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 để tổng hợp phần hình phạt còn lại với hình phạt của bản án này. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã được sửa đổi 2024, 2025 lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận diễn biến vụ việc; Đối với 02 can dao các bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về đề nghị của Viện kiểm sát: Nhận thấy Viện kiểm sát đề nghị mức án cho các bị cáo như trên là phù hợp.

Về đề nghị của Người bào chữa: Các bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ khoản 1 không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại không ai yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí, lệ phí tòa án: Áp dung điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo K’A, K’C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa J niên năm 2024 xử phạt bị cáo K’A 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2025.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa J niên năm 2024 xử phạt bị cáo K’C 06 (sáu) năm tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 để tổng hợp phần hình phạt của bản án này với phần hình phạt còn lại 03 năm 9 tháng 28 ngày chưa chấp hành của Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh B. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng 28 (hai mươi tám) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2026.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã được sửa đổi 2024, 2025 tuyên lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB ghi nhận diễn biến vụ việc; tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 97cm, phần lưỡi dao bằng sắt có đầu cong vào dài 27cm, phần cán dao bằng tre dài 70cm, đường kính 03cm của K’A sử dụng; 01 con dao dài 94cm phần lưỡi dao làm bằng sắt có đầu cong dài 28cm, phần cán dao làm bằng tre có chiều dài 66cm của K’C sử dụng.

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/01/2026; người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ