- Tranh chấp gì? án hình sự — "Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp - phạm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (điều 226 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Huy T phạm tội Xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp.
- Căn cứ chính? Điều 100 Luật Thi hành án hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2026/HS-ST Ngày: 12-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hạ
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 323/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2025/HSST-QĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Huy T, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1988 tại Hải Phòng; nơi ĐKHK thường trú: Tổ Đ, phường P, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số C đường P, phường K, thành phố Hải Phòng; giới tính: Nam; số căn cước công dân: 031088010924; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Huy T1 (đã chết) và bà Vũ Thị G (không rõ năm sinh- đã bỏ đi khi T còn nhỏ). T là con một; vợ: Nguyễn Thị G1, sinh năm 1993; bị can có 02 con: con lớn Trần Khánh A, sinh năm 2016, con nhỏ Trần Gia H, sinh năm 2025; tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/11/2025; có mặt.
Bị hại :
- Crocs, I; địa chỉ: E E, B B, C United S of America;
- A2; địa chỉ: A I E;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Crocs và Adidas AG tại Việt Nam: Đại diện Công ty L; địa chỉ: P, tầng A, Tòa nhà D, số H H, phường S, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Burberry; địa chỉ: H, Horseferry R, London SW1P 2AW United Kingdom;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Burberry tại Việt Nam: Công ty TNHH T2; địa chỉ: Lầu F, Mê Linh P, số B N, phường S (trước là phường B, Quận A), thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- D1.r.l; địa chỉ: M, Italy;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu D2 (D&G) tại Việt Nam: Đại diện Công ty Cổ phần S1; địa chỉ: Tầng E, tòa nhà C, số A T, phường Y, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Christian Dior SE; địa chỉ: C A, G P, F;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Christian Dior tại Việt Nam: Đại diện Công ty L1; địa chỉ: Tầng I, tòa nhà G, số A H, phường N, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Guccio Gucci S.p.A. (Registered/Corporate HQ); địa chỉ: Via T 73/r, 50123 F, I1;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Gucci tại Việt Nam: Đại diện Công ty TNHH T3; địa chỉ: Số G, ngõ B đường Q, tổ H, phường Y, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Hermès International S.A; địa chỉ: B Rue du Faubourg S P;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Hermès tại Việt Nam: Đại diện Công ty L2 và Cộng sự; địa chỉ: Tầng D, số A phố N, phường G, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Louis Vuitton (LV); địa chỉ: B Rue du Pont N, 75001 P, F;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu L3 (L) tại Việt Nam: Đại diện Công ty TNHH S2.Vip; địa chỉ: Tầng A, số F L, phường S (trước là phường B, Quận A), thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Moschino S.p.A. Headquarters; địa chỉ: Via S. Gregorio 28 20124 Milan (M), I1;
Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Moschino tại Việt Nam: Đại diện Công ty L4 nhìn và liên doanh; địa chỉ: P, tầng C, Tòa nhà H, D H, Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/8/2025, Đội Quản lý thị trường số B1 - Chi cục Quản lý thị trường thành phố H phối hợp với Phòng Cảnh sát kinh tế Công an thành phố H tiến hành kiểm tra hộ kinh doanh do Trần Huy T (sinh năm 1988, trú tại phường K, thành phố Hải Phòng) làm chủ. Qua kiểm tra, phát hiện và tạm giữ 1.078 sản phẩm giày, dép, túi xách gắn các nhãn hiệu Dolce&Gabbana (D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (LV), C, M. Tại thời điểm kiểm tra, Trần Huy T không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ số hàng hóa nêu trên.
Quá trình điều tra xác định: Đầu tháng 7/2025, Trần Huy T đến chợ N, thành phố Hà Nội, mua của một người đàn ông tên Q (không rõ lai lịch) 1.078 sản phẩm giày, dép, túi xách mang các nhãn hiệu nêu trên với giá 230.000.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt, không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Sau khi mua, T vận chuyển về cửa hàng, niêm yết giá và trưng bày để bán kiếm lời thì bị phát hiện, chưa bán được sản phẩm nào. Trị giá hàng hóa theo giá niêm yết tại thời điểm kiểm tra là 290.850.000 đồng.
Xác minh tại các Công ty đại diện và thực thi về quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đối với 09 nhãn hiệu hàng hóa trên tại Việt Nam xác định: Toàn bộ 1078 sản phẩm hàng hóa giầy, dép, túi xách (16 danh mục hàng hóa) được kê trong Biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, vi phạm hành chính số 31020003/BB-TG ngày 20/8/2025 của Đội Quản lý thị trường số B1 là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, không phải do các hãng chủ sở hữu nhãn hiệu nêu trên sản xuất, cho phép sản xuất hoặc cho phép phân phối trên thị trường.
Kết luận giám định sở hữu công nghiệp số NH558-25TC.TP/KLGĐ ngày 18/9/2025 của Viện sở hữu trí tuệ Quốc gia Bộ K kết luận giám định, xác định: Sản phẩm hàng hóa là giày, dép, túi xách giả mạo các nhãn hiệu “Dolce&Gabbana(D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (LV), C, M”, được ký hiệu từ Mẫu M1 đến Mẫu M14 như thể hiện trên tài liệu là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm đồ đi chân; giày dép thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 104784, 196756, 17537, 652614, 499422, 447981, 32168, 313176, 487580, 652614, 447981, 313176, GCN ĐKNH số 39995, 17537 và sản phẩm túi được ký hiệu Mẫu M15-16 như thể hiện trên tài liệu là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm túi xách tay thuộc Nhóm 18 theo ĐKQT số 104969, 952582.
Kết luận định giá tài sản số 138/KL-HĐĐGTS ngày 17/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố H kết luận: Đối với 1.078 sản phẩm giả mạo của các nhãn hiệu trên, xác định tổng giá trị của 1078 sản phẩm giả mạo nhãn hiệu trên là 236.937.000 đồng.
Vật chứng của vụ án là toàn bộ 1.078 sản phẩm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được chuyển giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Các công ty luật đại diện cho các nhãn hiệu trên đều đề nghị tiêu hủy sản phẩn giả mạo nhãn hiệu. Đối với Công ty luật đại diện cho các nhãn hiệu Gucci, Louis Vuitton (LV), Dolce&gabbana (D&G), M, A1, C không yêu cầu bồi thường thiệt hại; Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu Burberry đề nghị bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng; Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu Hermès yêu cầu bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng và chi phí quản lý theo đuổi vụ việc 32.000.000 đồng; Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu C1 yêu cầu bồi thường vật chất 500.000.000 đồng; bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Huy T khai nhận hành vi phạm tội, biết rõ số hàng hóa mang các nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ tại Việt Nam là hàng giả, không có nguồn gốc hợp pháp nhưng vẫn cố ý mua để bán kiếm lời. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 69/CT-VKS-P1 ngày 01 tháng 12 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố Trần Huy T về tội Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi như cáo trạng đã nêu. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Do hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã mua giầy, dép, túi xách các loại đều gắn nhãn nhãn hiệu nổi tiếng của một người đàn ông giới thiệu tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) về bán lại, để thu chút lợi nhuận nuôi bản thân và gia đình, hoàn toàn không có mục đích nào khác. Bị cáo không hiểu biết pháp luật nên đã vi phạm pháp luật. Bị cáo xin lỗi và mong bị hại xem xét, bỏ qua cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, lao động nuôi gia đình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đính chính bản Cáo trạng Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu Christian Dior yêu cầu bồi thường vật chất 500.000.000 đồng chứ không phải 50.000.000 như trong bản Cáo trạng đã nêu giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 226; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015; Xử phạt bị cáo Trần Huy T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: các Công ty luật chỉ có công văn yêu cầu bồi thường mà không đưa ra được căn cứ để xác định thiệt hại thực tế về vật chất cũng như tinh thần. Mặt khác bị cáo T mới chỉ nhập các sản phẩm giầy, dép, túi xách các loại có gắn nhãn hiệu nổi tiếng nêu trên nhưng chưa thu lợi bất chính thì đã bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện thu giữ, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp gì, việc xác định giá trị thiệt hại chính xác giá trị của các nhãn hàng không có tài liệu chứng minh. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu về việc buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại: Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu Burberry đề nghị bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng; Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu Hermès yêu cầu bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng và chi phí quản lý theo đuổi vụ việc 32.000.000 đồng; Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu C1 yêu cầu bồi thường vật chất 500.000.000 đồng; bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng. Do hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các sản phẩm hàng hóa giầy, dép, túi xách giả mạo các nhãn hiệu nêu trên đã bị thu giữ. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện rất khó khăn, bị cáo không có công việc, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cho bị cáo cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại: Các đại diện theo ủy quyền của bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa, tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay đều vắng mặt và không có lý do. Xét thấy đây là phiên tòa được mở lại lần thứ hai; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, các đại diện theo ủy quyền của bị hại đã có văn bản trình bày đầy đủ ý kiến, quan điểm đối với nội dung vụ án và các yêu cầu có liên quan. Việc vắng mặt của các đại diện theo ủy quyền của bị hại không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Dolce&Gabbana(D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (LV), C, M tại Việt Nam; các tài liệu do Cơ quan quản lý thị trường cung cấp, Kết luận giám định, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trần Huy T biết rõ các nhãn hiệu Dolce&Gabbana(D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (L), C, M là hàng hóa được đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các nhãn hiệu tại Việt Nam và T không được các nhãn hàng trên tại Việt Nam cho phép kinh doanh, phân phối sản phẩm các nhãn hiệu Dolce&Gabbana(D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (LV), C, M nhưng do hám lợi nên tháng 7/2025, T đã đến chợ N, phường P, thành phố Hà Nội, mua của một người đàn ông giới thiệu tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) tổng số 1.078 sản phẩm hàng hóa giày, dép, túi xách gắn các nhãn hiệu nêu trên, không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp với số tiền là 230.000.000 đồng, T thanh toán bằng tiền mặt, Q đóng hàng và gửi về địa chỉ cửa hàng cho T. T niêm yết giá trên từng mặt hàng và trưng bày tại cửa hàng để bán, thu lợi nhưng T chưa bán được sản phẩm nào thì bị kiểm tra, phát hiện.
Tại Bản kết luận giám định sở hữu công nghiệp số: NH558-25TC.TP/KLGĐ ngày 18/9/2025 của Viện sở hữu trí tuệ Quốc gia Bộ K kết luận giám định, xác định: Sản phẩm hàng hóa là giày, dép, túi xách giả mạo các nhãn hiệu “Dolce&Gabbana(D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (LV), C, M”, được ký hiệu từ Mẫu M1 đến Mẫu M14 như thể hiện trên tài liệu là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm đồ đi chân; giày dép thuộc Nhóm 25 theo ĐKQT số 104784, 196756, 17537, 652614, 499422, 447981, 32168, 313176, 487580, 652614, 447981, 313176, GCN ĐKNH số 39995, 17537 và sản phẩm túi được ký hiệu Mẫu M15-16 như thể hiện trên tài liệu là hàng hóa giả mạo đối với Nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm túi xách tay thuộc Nhóm 18 theo ĐKQT số 104969, 952582.
Bị cáo Trần Huy T đã có hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được pháp luật bảo hộ tại Việt Nam. Cụ thể, bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán các sản phẩm hàng hóa là giày, dép, túi xách gắn dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của các tổ chức đã được đăng ký bảo hộ, mà không được sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu. Hành vi nêu trên đã xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh, tác động tiêu cực đến nền kinh tế và xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự”.
Như vậy, Cáo trạng số 69/CT-VKS-P1 ngày 01 tháng 12 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Huy T về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ thực sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi tàng trữ, trưng bày để bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu Dolce&Gabbana (D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (LV), C, M của bị cáo Trần Huy T là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, ảnh hưởng đến uy tín thương mại của các nhãn hiệu và môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, ổn định.
Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo không có nghề nghiệp là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự quyết định miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp, không có thu nhập, tài sản riêng nên không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Toàn bộ 1.078 sản phẩm hàng hóa giày, dép, túi xách giả mạo các nhãn hiệu nêu trên là những vật cấm lưu hành nên không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử xét thấy nội dung đính chính của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên chấp nhận việc đính chính và xác định các yêu cầu bồi thường của: Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu Burberry đề nghị bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng; Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu Hermès yêu cầu bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng và chi phí quản lý theo đuổi vụ việc 32.000.000 đồng; Công ty luật đại diện cho nhãn hiệu C1 yêu cầu bồi thường vật chất 500.000.000 đồng; bồi thường tinh thần 50.000.000 đồng. Xét thấy số hàng hóa mang các nhãn hiệu nêu trên đã bị thu giữ, không có tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, đồng thời chủ sở hữu công nghiệp là B, H1, Christian D không xác định được thiệt hại vật chất. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu về bồi thường thiệt hại trong vụ án này.
Về những nội dung khác có liên quan đến vụ án: Đối với người bán hàng hóa giầy, dép, túi xách các nhãn hiệu giả mạo nhãn hiệu Dolce&Gabbana(D&G), D, B, H1, G2, A1, Louis V (L), C, M cho T, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã truy tìm, xác minh nhưng không xác định được là ai, ở đâu, nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án tính từ thời điểm bản án được tống đạt hợp lệ cho bị hại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 226; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 36, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 331, Điều 333, Điều 336 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Huy T phạm tội Xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp.
Xử phạt bị cáo Trần Huy T 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần Huy T cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Gia đình bị cáo Trần Huy T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp bị cáo được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Căn cứ Điều 123, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Huy T.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Huy T trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 75 (bao tải và thùng bìa catton) bên trong có tổng cộng 1.078 sản phẩm giày, dép, túi xách giả mạo nhãn hiệu theo Quyết định số 18118/QĐ-TG ngày 04/9/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H.
(Đặc điểm của vật chứng theo biên bản ngày 16/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra PCông an thành phố H với Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Huy T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND tối cao; - VKSND TP Hải Phòng; - PC03 Công an TP Hải Phòng; - Phòng HSNV Công an TP. Hải Phòng. - THADS TP Hải Phòng; - Bị cáo; Bị hại. - Phòng KTNV và THA; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |