vanban.org

Bản án 04/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng G, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2025. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương…"
  • Tòa quyết gì? 2 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng G, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - ĐỒNG THÁP
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HS-ST
Ngày: 06-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - ĐỒNG THÁP, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ong Thị Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Văn Dũng

2. Ông Nguyễn Viết Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyên là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Dương Lâm Thiên Thanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng G; sinh năm 1993, tại Đ; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi thường trú: Số 636, tổ 12, ấp Mỹ Thiện, xã Mỹ Đức, tỉnh An Giang; Con ông Nguyễn Hoàng A và bà Nguyễn Thị N; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Có vợ Phạm Thùy D và hai con, con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, tổng hợp hình phạt của hai tội là 02 năm 06 tháng tù (theo Bản án phúc thẩm số 54/2016/HS-PT ngày 24/02/2016), chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2017, chưa chấp hành bồi thường dân sự; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2026, Nguyễn Hoàng Gg bị Trưởng Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Đồng Tháp, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, phạt số tiền 1.500.000 đồng, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 05/01/2026;

Tạm giữ ngày 04/9/2025; Tạm giam ngày 08/9/2025; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Đồng Tháp; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Nguyễn Phước Đ, sinh năm 1999. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 6, khóm Đ, phường C, tỉnh Đ.

- Người làm chứng:

1. Phan Văn T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ 9, khóm 1, phường M, tỉnh Đ. (vắng mặt)

2. Lê Hoàng X, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 64, khóm 5, phường M, tỉnh Đ. (vắng mặt)

3. Lê Thị N, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khóm 6, phường M, tỉnh Đ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ, ngày 02/9/2025, Nguyễn Hoàng G một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda, kiểu dáng Winner, màu trắng đen, biển số 66P2-059.13, không số máy, số khung đến quán nước giải khát gần cầu Kinh Ông K thuộc phường M, tỉnh ĐTháp để uống cà phê. Tại đây, G tình cờ gặp người bạn tên T, không biết họ, tên, địa chỉ cụ thể, do biết Trầm là người sử dụng ma túy nên G hỏi T biết chỗ nào bán ma túy đá chỉ cho G mua thì T hỏi G cần mua bao nhiêu ma túy, G trả lời mua 2.000.000 đồng ma túy đá. T đồng ý và kêu G đến cầu Kinh Ông K thuộc phường M chờ T lấy ma túy bán cho. G đi đến cầu Kinh Ông K như đã hẹn thì thấy T chạy xe một mình đến, sau khi lấy 2.000.000 đồng và giao ma túy cho G xong Trầm bỏ đi còn G điều khiển xe đi đến khu đất trống gần đó sử dụng 01 cân điện tử, 01 kéo kim loại, 01 ống hút cắt xéo 01 đầu phân chia ma túy ra thành 03 bịch nhỏ, cất giấu trong túi quần sau bên phải để khi nào lên cơn nghiện thì lấy ra sử dụng.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/9/2025, Giang điều khiển biển số 66P2-059.13, định đi đến phường C để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đang lưu thông trên đường Nguyễn Chí T thuộc tổ 9, khóm 1, phường M, tỉnh Đ thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ và Công an phường M kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt quả tang G đang tàng trữ trái phép chất ma tuý và tiến hành tạm giữ tang vật, gồm:

Một bịch nylon màu trắng dạng túi kẹp có viền màu đỏ bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS2 24006549; Một bịch nylon màu trắng dạng túi kẹp có viền màu đỏ bên trong nhiều tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS2 24006537; Một bịch nylon màu trắng dạng túi kẹp có viền màu đỏ bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong túi niêm phong có Mã số: NS2 24006548 cùng 01 điện thoại di động nhân hiệu OPPO A79, màu trắng, số sim: 0786801153; 01 ví da màu đen; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 đoạn ống hút màu trắng được cắt xéo 01 đầu; 01 xe mô tô hiệu Honda, kiểu dáng Winner, màu trắng đen, biển số 66P2-059.13, không số máy, số khung; 01 cây cân điện tử, màu đen, mặt cân màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu trắng. Tất cả đều đã qua sử dụng.

Căn cứ bản kết luận giám định số 1369/KL-KTHS, ngày 08/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:

Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, ký hiệu M1 được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2-24006549, gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 2,427 gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, ký hiệu M2 được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2-24006537, gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 2,289gam, loại Methamphetamine; Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu đỏ, ký hiệu M3 được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2-24006548, gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,436 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy chứa trong 03 bịch nylon có ký hiệu M1, M2, M3 là 5,152 gam, loại Methamphetamine. Hoàn trả chất ma tuý còn lại sau giám định có tổng khối lượng ma túy là 4,842 gam, loại Methamphetamine.

Căn cứ bản kết luận giám định, số 1640/KL-KTHS ngày 26/09/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ, kết luận: Xe mô tô biển số 66P2-059.13, kiểu dáng Winer, màu sơn trắng, đen, số ký tự khung trước và sau giám định “bị tẩy xóa hoàn toàn”; Số, ký tự máy trước và sau giám định “bị tẩy xóa hoàn toàn”.

- Kết quả xác định tình trạng nghiện của Nguyễn Hoàng G dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine trong cơ thể. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoàng G. Từ trước đến nay G không bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay thuộc đối tượng bị quản lý tại địa phương nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 05/01/2026 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng G về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền là 1.500.000 đồng.

Đới với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A79, màu trắng có số sim 0786801153 G không sử dụng điện thoại này vào mục đích phạm tội, các tài sản khác gồm 01 nón bảo hiểm màu trắng, 01 ví da màu đen, tất cả đều đã qua sử dụng là tài sản cá nhân của G, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho G; Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Winner, màu trắng đen, biển số 66 P2-059.13, số khung, số máy bị tẩy xóa. Qua tra cứu và kết quả xác minh chủ sở hữu là ông Nguyễn Phước Đ, năm 2020 ông Đ bán xe cho một người đàn ông không rõ nhân thân, địa chỉ ở thành phố C và được G mua lại của người khác rao bán trên mạng vào năm 2024. Do xe ông Đ đã bán cho người khác, số khung, số máy bị tẩy xóa, không có thông tin về việc người dân trình báo mất xe. G mua xe không giấy tờ, không rõ nguồn gốc và G không yêu cầu nhận lại xe nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Hoàng G thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; biên bản xác định tình trạng nghiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS-KV6 ngày 10 tháng 01 năm 2026, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng G, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và thống nhất với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo khai nhận, bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2023, bị cáo mua ma túy mục đích để sử dụng, từ trước đến nay bị cáo chưa từng bị buộc cai nghiện bắt buộc, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo hiện có 01 tiền án, chấp hành xong hình phạt tù năm 2017, sau khi ra tù bị cáo chưa bồi thường trách nhiệm dân sự. Bị cáo thống nhất với kết luận giám định khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 5,152 gam, loại Methamphetamine. Đối với xe mô tô bị cáo điều khiển tàng trữ trái phép chất ma túy là do bị cáo mua của người lạ không có giấy tờ, có biển số 66 P2-059.13, số khung và số máy bị tẩy xóa, bị cáo thống nhất tịch thu sung ngân sách.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Đồng Tháp trình bày luận tội:

Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng G, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Đièu 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G mức án từ 06 năm đến 07 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên như cáo trạng đã nêu.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì đối với luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định chất ma túy, phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, lời khai người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu nhập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 04/9/2025, bị cáo Nguyễn Hoàng G điều khiển xe mô tô biển số 66 P2-059.13 trên đoạn đường Nguyễn Chí T thuộc tổ 9, khóm 1, phường M, tỉnh Đ thì bị Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng.

Theo kết luận của cơ quan chuyên môn, ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng 5,152 gam, loại Methamphetamine.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần trực tiếp cho người sử dụng, đồng thời cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nhất là nơi xảy ra vụ án.

Từ những phân tích nêu trên, hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)……;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 đến 10 năm:

a)…..;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;”

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt; Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô do bị cáo điều khiển có biển số 66 P2-059.13, số khung và số máy bị tẩy xóa, không rõ nguồn gốc, bị cáo dùng làm phương tiện tàng trữ trái phép chất ma túy và bị bắt quả tang, tại phiên tòa bị cáo thống nhất đề nghị tịch thu sung ngân sách. Do đó, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Winner, màu trắng - đen, biển số 66P2-059.13 số khung, số máy bị tẩy xóa (xe đã qua sử dụng).

Đối với chất ma túy còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,842 gam loại Methamphetamine, được niêm phong trong 03 túi niêm phong có mã số PS3-24177996; PS3-24177997; PS3-24177998, ngày 04/9/2025, ký hiệu mẫu M1, M2, M3 và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng E, Phan Nguyễn Hà G, Nguyễn Quang T và Nguyễn Hoàng G và các dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 đoạn ống hút màu trắng được cắt xéo 01 đầu, 01 cân điện tử màu đen, mặt cân màu trắng là cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định.

Các vấn đề khác: Đối với người tên T đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo do không đủ thông tin về nhân thân nên không xác định được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với kết quả xác định tình trạng nghiện của bị cáo là dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine trong cơ thể. Quá trình điều tra, truy tố đã xác định từ trước đến nay Nguyễn Hoàng G không bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay thuộc đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy bị quản lý tại địa phương nên không có căn cứ xử lý về tội sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma tuý - Công an tỉnh Đồng Tháp đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 05/01/2026, xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Hoàng G số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Các vấn đề này đã được xác định, điều tra trong quá trình điều tra, truy tố. Tại phiên tòa không ai có ý kiến, yêu cầu gì khác liên quan đến các nội dung trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về quan điểm trình bày luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xét thấy là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1.2 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng G, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.3 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2025.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

[2.1] Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy còn lại sau giám định có tổng khối lượng 4,842 gam loại Methamphetamine, được niêm phong trong 03 túi niêm phong có mã số PS3-24177996; PS3-24177997; PS3-24177998 ngày 04/9/2025, ký hiệu mẫu M1, M2, M3 và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng E, Phan Nguyễn Hà G, Nguyễn Quang T và Nguyễn Hoàng G; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 đoạn ống hút màu trắng được cắt xéo 01 đầu, 01 cân điện tử màu đen, mặt cân màu trắng.

[2.2] Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Winner, màu trắng - đen, biển số 66P2-059.13 số khung, số máy bị tẩy xóa (xe đã qua sử dụng).

(Các vật chứng nêu trên do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý, theo Biên bản về việc giao vật chứng, tài sản ngày 23 tháng 01 năm 2026).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng G phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ