vanban.org

Bản án 04/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế, TP. Huế Tuyên án 06/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về Trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hồ Đắc T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/8/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – HUẾ
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HS-ST
Ngày: 06/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Phi Phương và bà Hoàng Thị Diễm Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Đắc T; tên gọi khác: Đốp; sinh ngày 04 tháng 02 năm 2003, tại thành phố H; Giới tính: Nam; Số CCCD: 046203010830; nơi cấp: Cục trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã L, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Đắc H, sinh năm 1974 và con bà Võ Thị N, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; gia đình có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ sống với gia đình tại xã L, thành phố H (nay là phường T, thành phố H); lên đến lớp 05/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp việc gia đình.

Ngày 05/03/2022, bị công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (theo Quyết định số: 628/QĐ-XPHC); bị cáo đã chấp hành nộp phạt vào ngày 12/05/2022.

Ngày 30/08/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế cũ xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số 207/2022/HS-ST); bị cáo chấp hành án đến ngày 12/01/2023 thì ra tù trở về địa phương sinh sốn; bị cáo đã chấp hành nộp phạt vào ngày 09/11/2022.

Ngày 29/08/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (theo Bản án số: 69/2023/HS-ST). Đến ngày 04/01/2024, bị tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt với bản án số 69/2023/HS-ST ngày 29/08/2023, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 01 năm 09 tháng tù (theo Bản án số: 06/2024/HS-ST, ngày 04/01/2024). Bị cáo chấp hành án đến ngày 21/05/2025 thì ra tù trở về địa phương sinh sống. Bị cáo đã chấp hành nộp phạt vào ngày 23/3/2024.

Tiền án: 02 tiền án (Bản án số: 207/2022/HS-ST ngày 30/08/2022 và Bản án số: 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024).

Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 31/08/2025 cho đến nay, tại phân trại giam H1; có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

- Anh Hoàng Trung P, sinh năm 2000; địa chỉ thường trú: G P, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ hiện tại: Số C N, phường A, thành phố H; có đơn xin vắng mặt.

- Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1972; địa chỉ thường trú: 17/73 D, phường A, thành phố H; địa chỉ hiện tại: Số C L, phường A, thành phố H; có đơn xin vắng mặt.

- Ông Hoàng Trọng Q, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn C, thành phố Hải Phòng; địa chỉ liên hệ: A L, phường A, thành phố H; vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1972; địa chỉ: số C N, phường A, thành phố H; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ, ngày 30/08/2025, Hồ Đắc T đi bộ đến phía trước nhà của anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm: 1972, ở tại số C đường N, phường A, thành phố H; phát hiện cổng nhà không khóa nên T mở cổng đi vào trong, mở cốp xe mô tô BKS: 73B1 - 434.56 (xe của anh Hoàng Trung P, sinh năm: 2000, em của anh T2) đang dựng trong hiên, tìm kiếm tài sản trong cốp lấy được số tiền 14.000 đồng; sau đó, T đi vào nhà, lên phòng ngủ tầng hai của anh P, thấy anh P đang nằm ngủ, phía đầu giường có để một hộp đựng tai nghe màu trắng bên trong đựng 02 (hai) cái tai nghe không dây màu đen; T lấy trộm rồi đi xuống tầng thì anh P phát hiện, tri hô nên T bỏ chạy ra ngoài thì bị tổ tuần tra của Công an phường A phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.

Quá trình điều tra, T còn khai nhận đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Vào rạng sáng ngày 12/07/2025, T đi bộ đến khu vực tập kết xe ô tô Bus Phương T3, tại kiệt D, đường H, phường A, thành phố H; thì phát hiện một xe mô tô BKS: 75B1 - 041.29, của anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm: 1972, trú tại 30, đường L, phường A, thành phố H, để cạnh các xe Bus; T dùng tay mở cốp xe lấy trộm được một điện thoại di động, nhãn hiệu S Note 10+ rồi giữ lại để sử dụng cá nhân.

Vào rạng sáng ngày 18/8/2025, T đi bộ đến trước số nhà D, đường N, phường A, thành phố H; thì phát hiện xe ô tô BKS: 15A – 30413, của anh Hoàng Trọng Q, sinh năm 1976, trú tại Tổ dân phố A, thị trấn C, C, thành phố Hải Phòng (cũ); đang đậu trên đường, cửa xe không khóa nên T mở cửa vào bên trong tìm kiếm tài sản, lấy trộm được 01 cái ví da, bên trong có số tiền 240.000 đồng; T lấy tiền còn ví da bỏ lại trong xe.

Tại Cơ quan điều tra, Hồ Đắc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 246/KL-HĐĐGTS ngày 25/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H kết luận 01 (một) hộp đựng tai nghe màu trắng, nhãn hiệu S, bên trong đựng 02 (hai) tai nghe không dây màu đen, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 690.000 đồng (sáu trăm chín mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+ 5G màu bạc, số IMEI 352147110181941, bản 12GB/256GB, tình trạng đã qua sử dụng trị giá: 5.313.000 đồng (Năm triệu ba trăm mười ba nghìn đồng). Như vậy, tổng trị giá tài sản là: 6.003.000 đồng (Sáu triệu không trăm lẻ ba nghìn đồng).

Quá trình điều tra, các vật chứng thu giữ gồm:

- Số tiền 14.000 đồng;

- 01 (một) hộp đựng tai nghe màu trắng, nhãn hiệu S FE, bên trong đựng 02 cái tai nghe không dây màu đen, tình trạng đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+ 5G, màu bạc, số IMEI 352147110181941, bản 12GB/256GB, tình trạng đã qua sử dụng.

- 01 (một) đĩa DVD-R 4.7GB16X có chứa một đoạn ghi hình có hình ảnh một nam thanh niên mở cửa, lục lọi xe ô tô đang đỗ bên đường vào ngày 18/8/2025 do bị hại Hoàng Trọng Q giao nộp hiện được lưu trong hồ sơ vụ án.

- Số tiền 240.000 đồng của anh Hoàng Trọng Q không thu giữ được.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-KV1 ngày 03 tháng 12 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế đã truy tố Hồ Đắc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hồ Đắc T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Ngày 30/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 6464/QĐ-VPCQCSĐT trả lại số tiền 14.000 đồng (Mười bốn nghìn đồng) và 01 (một) hộp đựng tai nghe màu trắng, nhãn hiệu S FE, bên trong đựng 02 cái tai nghe không dây màu đen, tình trạng đã qua sử dụng cho chủ sở hữu anh Hoàng Trung P; trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+ 5G, màu bạc, số IMEI 352147110181941, bản 12GB/256GB, tình trạng đã qua sử dụng cho chủ sở hữu anh Nguyễn Ngọc T1. Các vật chứng này đã xử lý xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với (một) 01 Đĩa DVD-R 4.7GB16X có chứa một đoạn ghi hình có hình ảnh một nam thanh niên mở cửa, lục lọi xe ô tô đang đỗ bên đường vào ngày 18/8/2025 do bị hại Hoàng Trọng Q giao nộp hiện được lưu trong hồ sơ vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Hoàng Trung P, ông Nguyễn Ngọc T1, ông Hoàng Trọng Q đều không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTYQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã truy tố; bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên; lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, đủ căn cứ kết luận: Từ ngày 12/7/2025 đến 30/8/2025, tại phường A, thành phố H; Hồ Đắc T đã có hành vi nhiều lần trộm cắp tài sản, gồm: của anh Hoàng Trung P, số tiền 14.000 đồng và 02 tai nghe trị giá 690.000 đồng; của anh Nguyễn Ngọc T4, 01 điện thoại trị giá: 5.313.000 đồng; của anh Hoàng Trọng Q, số tiền 240.000 đồng. Tổng số tiền T đã chiếm đoạt là 6.257.000 đồng (sáu triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo có tiền án và tại Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế cũ đã xác định bị cáo tái phạm chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế truy tố bị cáo Hồ Đắc T theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Hồ Đắc T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án (Bản án số: 207/2022/HS-ST ngày 30/08/2022 và Bản án số: 06/2024/HS-ST ngày 04/01/2024) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” được quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phân tích ở trên, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 30/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 6464/QĐ-VPCQCSĐT trả lại số tiền 14.000 đồng (Mười bốn nghìn đồng) và 01 (một) hộp đựng tai nghe màu trắng, nhãn hiệu S FE, bên trong đựng 02 cái tai nghe không dây màu đen, tình trạng đã qua sử dụng cho chủ sở hữu anh Hoàng Trung P; trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+ 5G, màu bạc, số IMEI 352147110181941, bản 12GB/256GB, tình trạng đã qua sử dụng cho chủ sở hữu anh Nguyễn Ngọc T1. Các vật chứng này đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 (một) đĩa DVD-R 4.7GB16X có chứa một đoạn ghi hình có hình ảnh một nam thanh niên mở cửa, lục lọi xe ô tô đang đỗ bên đường vào ngày 18/8/2025 do bị hại Hoàng Trọng Q giao nộp hiện được lưu trong hồ sơ vụ án là tài liệu không thể tách rời của hồ sơ vụ án, vì vậy cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Trung P, Nguyễn Ngọc T1 và anh Hoàng Trọng Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Đắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Đắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về Trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hồ Đắc T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 31/8/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD-R 4.7GB16X có chứa một đoạn ghi hình có hình ảnh một nam thanh niên mở cửa, lục lọi xe ô tô đang đỗ bên đường vào ngày 18/8/2025 do bị hại Hoàng Trọng Q giao nộp.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Hồ Đắc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3.Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ