vanban.org

Bản án 04/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Hồ Thị T và bị đơn anh Cao Xuân H.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị Thoan và anh Cao Xuân Hương. Quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thoan và anh Cao Xuân Hương chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung Cao Thị Mỹ D, sinh ngày 21/7/2017 và Cao Na… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Hồ Thị T và bị đơn anh Cao Xuân H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HNGĐ - ST
Ngày 08 - 01 – 2026
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Thiên Lương và ông Hoàng Trọng Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Hải – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị xét xử công khai vụ án thụ lý số 90/2025/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị T, sinh năm 1999.

Nơi cư trú: Bản Bãi D, xã Dân H, tỉnh Quảng Trị. Chị Thoan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Bị đơn: Anh Cao Xuân H, sinh năm 1996.

Nơi cư trú: Bản Bãi D, xã Dân H, tỉnh Quảng Trị. Anh Hương có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị Thoan trình bày:

Chị và anh Cao Xuân H có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 25/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Dân Hóa, tỉnh Quảng Trị). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, anh Hương không quan tâm đến gia đình và sống thiếu tin tưởng lẫn nhau. Hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Thoan nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hương.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Cao Thị Mỹ Du, sinh ngày 21/7/2017 và Cao Nam Hào, sinh ngày 12/01/2019. Sau khi ly hôn chị Thoan có nguyện vọng giao hai con chung cho anh Hương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, chị Thoan đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh Hương mổi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Thoan trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Cao Xuân Hương trình bày:

Anh và chị Hồ Thị Thoan có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 25/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Dân Hóa, tỉnh Quảng Trị). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã Dân Hóa được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẩn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Thoan làm đơn xin ly hôn thì anh Hương cũng đồng ý ly hôn.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Cao Thị Mỹ Du, sinh ngày 21/7/2017 và Cao Nam Hào, sinh ngày 12/01/2019. Hiện nay hai con chung đang sinh sống cùng anh Hương. Sau khi ly hôn, anh Hương có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung và yêu cầu chị Thoan đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Cao Xuân Hương trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị Thoan và bị đơn anh Cao Xuân Hương có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, lý do công việc ở xa đi lại khó khăn nên không thể trực tiếp đến Tòa án giải quyết ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Chị Hồ Thị Thoan khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Cao Xuân Hương, cư trú tại Bản Bãi Dinh, xã Dân Hóa, tỉnh Quảng Trị, đây là vụ án “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Quảng Trị thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị Thoan và bị đơn anh Cao Xuân Hương có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hồ Thị Thoan và anh Cao Xuân Hương có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 25/9/2017 tại Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2017 của Ủy ban nhân dân xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Dân Hóa, tỉnh Quảng Trị) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng từ năm 2023 đến nay, cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẩn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, hay xảy ra cãi vã, vợ chồng chung sống nhưng không tin tưởng lẫn nhau. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, chị Thoan giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Hương và anh Hương cũng đồng ý ly hôn. Xét trình bày của các bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Thoan xin ly hôn, anh Hương cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị Thoan và anh Cao Xuân Hương.

Về quan hệ con chung:

Chị Hồ Thị Thoan và anh Cao Xuân Hương thống nhất quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Cao Thị Mỹ Du, sinh ngày 21/7/2017 và Cao Nam Hào, sinh ngày 12/01/2019. Sau khi ly hôn, chị Thoan có nguyện vọng giao 02 con chung cho anh Hương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị Thoan đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh Hương mỗi tháng 2.000.000 đồng (Mỗi đứa mỗi tháng 1.000.000 đồng). Anh Hương cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung và yêu cầu chị Thoan đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 2.000.000 đồng (Mỗi đứa mỗi tháng 1.000.000 đồng). Hội đồng xét xử nhận thấy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, vì vậy giao 02 con chung Cao Thị Mỹ Du và Cao Nam Hào cho anh Cao Xuân Hương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Hồ Thị Thoan có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng anh Hương mỗi đứa mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể từ tháng 01/2026 cho đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân là phù hợp với nguyện vọng của hai con, hai bên đương sự, điều kiện thực tế của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị T và anh Cao Xuân H thống nhất quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hồ Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Thoan đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000852 ngày 15/10/2025. Chị Hồ Thị T phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Hồ Thị T và bị đơn anh Cao Xuân H.

2. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hồ Thị Thoan và anh Cao Xuân Hương. Quan hệ hôn nhân giữa chị Hồ Thị Thoan và anh Cao Xuân Hương chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung Cao Thị Mỹ D, sinh ngày 21/7/2017 và Cao Nam H, sinh ngày 12/01/2019 cho anh Cao Xuân H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hồ Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung mỗi đứa mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), kể từ tháng 01/2026 cho đến khi các con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Bên không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và tiền cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Chị Hồ Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Thoan đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000852 ngày 15/10/2025. Chị Hồ Thị T phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ