- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Thanh T phạm tội "Hủy hoại tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Tô Thanh T phạm tội " Hủy hoại tài sản".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HSST Ngày 22/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰ 7 - TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Cạn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thị Minh Phương
2. Ông Nguyễn Viết Tác
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến – Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân khu vực 7 - tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/ TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tô Thanh T (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 08 tháng 01 năm 1996.Tại huyện B, tỉnh Cao Bằng ( Có mặt).
Nơi cư trú: ĐKHKT và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã X, tỉnh Cao Bằng ( Xóm B, xã X, huyện B ,tỉnh Cao Bằng cũ); Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 7/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tô Văn Q (đã chết) và bà: Tô Thị L; có vợ: Nguyễn Kiều V (Hiện nay sống ly thân) và 01 con, 06 tuổi; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/10/2015 bị Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn cũ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2025 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh T (tại Trại tạm giam Công an tỉnh B cũ).
* Bị hại: Bà Chu Thị T1, sinh năm 1970 (Có mặt)
Trú tại: Thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tô Thị L, sinh năm 1973( Có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã X, tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tố tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tô Thanh T, sinh năm 1996 trú tại xóm B, xã X, huyện B, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm B, xã X, tỉnh Cao Bằng) và bà Chu Thị T1, sinh năm 1970, trú tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên) có mối quan hệ quen biết nhau. T sống ở nhà bà T1 từ tháng 12/2023 đến khoảng tháng 9/2024, sau đó T đi làm phụ xây ở tỉnh Bắc Giang. Tháng 3/2025 bà T1 gọi T về sống cùng nhà với bà T1, hàng ngày phụ bà T1 làm các công việc gia đình như: Chăn lợn, chăn gà, làm vườn….Trong thời gian sống ở nhà bà T1 thì thỉnh thoảng T và bà T1 có mâu thuẫn dẫn đến cãi chửi nhau.Khoảng 15 giờ ngày 01/4/2025, T đi ra khỏi nhà bà T1, đến khoảng 16 giờ thì đi về nhà bà T1, trên đường về Tuyền mua 0,5 lít rượu, khi về đến nhà bà T1 thì T uống 1/3 số rượu vừa mua rồi đi ra vườn ở trước cửa nhà bà T1 làm cỏ. Sau đó T vào nhà và uống hết số rượu còn lại đặt tại bàn phòng khách nhà bà T1. Đến khoảng hơn 19 giờ cùng ngày thì bà T1 đi làm về đến nhà thấy T đang ngồi ở bàn uống nước trong phòng khách và có biểu hiện say rượu nên đã nhắc nhở T rồi đi xuống bếp. Tuyền thấy bực tức nên nắm tay phải đập xuống mặt kính bàn uống nước làm vỡ kính, sau đó T đi ra sân ngồi lên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 97F8-8168 (xe của T1) với mục đích đi ra ngoài cho đỡ bực tức. Khi T chuẩn bị điều khiển xe đi thì bà T1 chạy ra khóa cổng lại, do bực tức nên T điều khiển xe mô tô nêu trên đi từ trong sân ra đâm vào cánh cổng bên phải làm bung bật miếng tôn ở cánh cổng, T cũng bị ngã khỏi xe nên đã dắt lùi xe vào trong sân, dựng xe theo hướng đầu xe quay ra cổng. Khi thấy T điều khiển xe đâm vào cổng làm cổng bị hỏng thì bà T1 đã rút chìa khóa và chạy đi báo Công an. Do vẫn bực tức nên T đổ 01 bao cám chăn gà, 01 bao cám chăn lợn của bà T1 ra sân rồi vào nhà, đi lên tầng hai dùng chân phải đạp vào vách ngăn phòng làm bung bật 02 tấm nhựa; T tiếp tục đi xuống sân, ra vườn lấy 01 chai nhựa gắn nhãn có dòng chữ Lavie bên trong đựng xăng (xăng còn khoảng 1/3 chai là của bà T1 mua trước đó để pha vào sơn mục đích sơn các thanh cột kim loại mái che) quay lại sân đi đến vị trí dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 97F8-8168 rồi đổ hết số xăng trong chai lên yên xe và chảy xuống khu vực chân giẫm của xe. Đổ xong, T sử dụng 01 chiếc bật lửa của mình, bật lửa và châm vào xăng ở khu vực chân giẫm phía trước của xe. Khi lửa vừa bốc cháy, T dùng chân phải đạp đổ chiếc xe rồi đi vào trong nhà ngồi ở bàn uống nước để mặc xe cháy. Khi bà T1 quay về nhà, nhìn thấy chiếc xe mô tô đang cháy nên đã lấy vòi nước ra dập được lửa rồi đi ra ngoài cổng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an xã D đến giải quyết sự việc nhưng T không chấp hành, sau đó Công an xã D phối hợp cùng lực lượng Cảnh sát 113 khống chế Tuyền và lập biên bản sự việc.
Ngày 02/4/2025, Công an xã D nguồn tin về tội phạm trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã lấy lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định đối với 01 chai nhựa gắn nhãn có dòng chữ Lavie, sản phẩm cháy màu đen thu tại phía trên mặt nền bê tông, dưới phần để chân phía trước của xe mô tô bị cháy và yêu cầu định giá tài sản.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 02/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định: Hiện trường vụ hủy hoại tài sản là tại nhà của Chu Thị T1 tại thôn N, xã D, thành phố B. Nhà xây hai tầng, có kích thước (6,50 x 4,70)m. Sân phía trước nhà được rải bê tông, kích thước (13 x 05)m. Vị trí phát hiện 01 xe mô tô không rõ BKS, nhãn hiệu, màu sắc đã bị cháy mất một số bộ phận, đang trong trạng thái đổ nghiêng bên phải trên mặt sân; trục bánh xe phía trước bên trái cách góc phía Đông Bắc nhà 2,36m, cách tường bao phía Bắc của sân 3,08m. Trục bánh xe phía sau bên trái cách góc nhà phía Đông Bắc 3,40m, cách tường bao phía Bắc 2,55m. Đầu xe hướng ra phía cổng ra vào sân, phía dưới xe có nhiều muội than và sản phẩm cháy.
Tại Kết luận giám định số 2952/KL-KTHS, ngày 04/4/2025 của V1 Bộ C3 kết luận: Trên các mẫu vật gửi giám định đều tìm thấy dấu vết của xăng. Xăng là hóa chất thuộc danh mục hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 702/KL-HĐĐGTXCT, ngày 10/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Kạn kết luận:
- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda JF18, biển kiểm soát 97F8 - 8168, màu sơn đỏ-đen, sản xuất năm 2010, tại thời điểm ngày 01/4/2025 trước khi bị đốt cháy chiếc xe mô tô có giá trị là: 7.200.000 đồng. Giá trị của chiếc xe mô tô sau khi bị đốt cháy là 833.300 đồng.
- Vách ngăn phòng bị hư hỏng, cụ thể: 02 tấm nhựa C ngăn phòng bị bung ra khỏi vị trí ban đầu, trong đó 01 tấm kích thước rộng 0,37m, dài 0,53m; 01 tấm kích thước rộng 0,46m, dài 0,53m; 01 thanh kim loại màu trắng kích thước dài 0,53m, rộng 0,025m bị cong vênh, biến dạng dùng để cố định 02 tấm vách ngăn nhựa Composite. Giá trị thiệt hại là 366.000 đồng.
- 01 cổng bằng kim loại, bị hư hỏng, cụ thể: 01 tấm kim loại ốp khung bên trái của cánh cổng bên phải (hướng quan sát từ trong ra) bị bung ra khỏi vị trí ban đầu, kích thước tấm kim loại dài 0,81m, rộng 0,58m. 01 thanh kim loại hình trụ tròn kích thước dài 0,3m, đường kính 0,01m dùng để cố định cổng với mặt nền bê tông bị cong vênh, biến dạng. Giá trị thiệt hại là 383.000 đồng.
- 01 tấm kính trên mặt bàn kích thước dài 0,88m, rộng 0,50m, dày 0,008m bị vỡ thành nhiều mảnh. Loại kính một lớp màu xanh nhạt, mài góc cạnh. Giá trị thiệt hại là 340.000 đồng.
- 1/2 bao cám chăn lợn nhãn hiệu EMOSS Feed 300 loại 25kg/01 bao, toàn bộ cám trong bao bị đổ hết ra nền sân bê tông. Giá trị thiệt hại là 149.000 đồng.
- 1/2 bao cám chăn gà nhãn hiệu EMOSS Feed 611A loại 25kg/01 bao, toàn bộ cám trong bao bị đổ hết ra nền sân bê tông. Giá trị thiệt hại là 151.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Vật chứng được nhập kho vật chứng Công an thành phố Bắc Kạn gồm: Các bộ phận của bật lửa ga bao gồm: Bánh xe, đá lửa, ma nhi tô, chắn gió, mảnh vỡ nhựa màu đỏ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A115158.
- Các vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Chu Thị T1 gồm: 01 con dao dài 29cm, chuôi dao bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại; 01 thanh kim loại màu trắng dài 53cm, rộng 2,5cm bị cong vênh; 01 viên đá mài màu xám, dài 20cm x rộng 05cm; 01 con dao nhọn dài 28cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 18cm, chuôi dao bằng nhựa; 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, BKS 97F8 - 8168, xe bị đốt cháy, trả lại phần khung kim loại.
- Vật chứng sử dụng trong quá trình giám định gồm: 01 chai nhựa trong suốt, nắp màu xanh, gắn nhãn có dòng chữ Lavie; Sản phẩm cháy màu đen thu tại phía trên mặt nền bê tông, dưới phần để chân phía trước của xe mô tô bị cháy. Các vật chứng nêu trên đã sử dụng hết để thực hiện giám định nên không hoàn trả.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Chu Thị T1 xác định 02 bao cám bị T đổ hết ra sân bị bẩn nên không sử dụng được, kính mặt bàn bị vỡ và chiếc xe mô tô không còn giá trị sử dụng; Vách ngăn phòng, cổng không bị hỏng hoàn toàn nên đã tự khắc phục sửa chữa. Bà T1 yêu cầu bồi thường toàn bộ tài sản mà T đã làm hư hỏng vào ngày 01/4/2025 với số tiền 8.589.000 đồng, hiện nay bà T1 đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSKV7 ngày 22/7/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Tô Thanh T về tội: "Hủy hoại tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên toà đọc bản luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Tô Thanh T phạm tội “ Hủy hoại tài sản”
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Thanh T từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2025
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47/ BLHS; Điều 106/BLTTHS. Đề nghị tịch thu tiêu hủy các bộ phận của bật lửa ga bao gồm: Bánh xe, đá lửa, ma nhi tô, chắn gió, mảnh vỡ nhựa màu đỏ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A115158 Tô Thanh T sử dụng làm phương tiện để huỷ hoại tài sản.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136/BLTTHS, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị bị cáo phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo T không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo T tự nhận là một mình thực hiện hành vi phạm tội huỷ hoại tài sản, bị cáo tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật là cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy. Khoảng gần 20 giờ ngày 01/4/2025, tại nhà Chu Thị T1 thuộc thôn N, xã P, tỉnh Thái Nguyên. ( thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn cũ), do bực tức bà T1 nên Tô Thanh T đã có hành vi đập vỡ 01 tấm kính trên mặt bàn giá trị là 340.000 đồng, đổ 1/2 bao cám chăn lợn giá trị là 149.000 đồng; 1/2 bao cám chăn gà giá trị là 151.000 đồng ra nền sân bê tông, sử dụng xăng là hóa chất thuộc danh mục hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ để đốt cháy 01 xe môtô nhãn hiệu Honda BKS 97F8-8168 có giá trị là: 7.200.000 đồng. Các tài sản trên hiện nay đã mất toàn bộ tính năng sử dụng. Khi thực hiện các hành vi nêu trên, Tô Thanh T cố ý thực hiện và bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Do đó, Tô Thanh T phải chịu trách nhiệm hình sự về toàn bộ tổng giá trị tài sản là 7.840.000 đồng. Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự. Điều 178 có nội dung:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
d) Dùng chất nguy hiểm về cháy nổ…
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo :
- Về nhân thân: Thấy bị cáo T không có tiền án, tiền sự. Nhưng ngày 29/10/2015, Công an thành phố B, tỉnh Bắc Kạn cũ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản nên không được coi là có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng tại Điều 52/BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi huỷ hoại tài sản bị cáo đã tác động mẹ đẻ là bà Tô Thị L bồi thường thiệt hại cho bà Chu Thị T1 số tiền 8.589.000 đ,( Tám triệu năm trăm tám mươi chín nghìn không trăm đồng) và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có bà Lãnh Thị C1 là bà nội của bị cáo được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Viện kiểm sát đề nghị mức xử phạt 24 đến 30 tháng tù, không đề nghị phạt bổ sung, đề nghị xử lý vật chứng, án phí là phù hợp.
. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của Tô Thanh T hủy hoại tài sản được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự, là thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý và bảo vệ tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, không làm chủ được cảm xúc của bản thân, coi thường tài sản của người khác, lợi dụng men rượu để đập phá, đốt tài sản của Chu Thị T1 gây thiệt hại. Căn cứ vào nhân thân , tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội đi tập trung cải tạo một thời gian nhất định thể hiện tính nghiêm minh công bằng của pháp luật nhằm trừng trị răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với hành vi sử dụng xe mô tô đâm vào cánh cổng, dùng chân đạp vách ngăn phòng làm hư hỏng các tài sản trên của Tô Thanh T không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tuy nhiên các hành vi này đã vi phạm pháp luật hành chính, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu có liên quan đến Phòng C4 Công an tỉnh B để xem xét xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tại Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số: 114/QĐ-XPHC, ngày 27/6/2025 của Phòng Cảnh sát ĐTTP VỀ TTXH. Mức phạt 3.000.000 đồng, là đúng theo quy định của pháp luật.
Ngoài các hành vi nêu trên, ngày 01/4/2025 khi Công an xã D đến hiện trường để giải quyết vụ việc, Tô Thanh T đã có hành vi đuổi tổ công tác ra ngoài cổng. Tuy nhiên tại thời điểm tổ công tác Công an xã D đến hiện trường, tổ công tác không mặc cảnh phục nên T không biết đó là Công an và T cũng không có hành vi gây thương tích cho tổ công tác. Hành vi này của Tô Thanh T không có dấu hiệu của tội “Chống người thi hành công vụ” nên không xem xét, xử lý là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Chu Thị T1 xác định 02 bao cám bị T đổ ra sân bị bẩn nên không sử dụng được, kính mặt bàn bị vỡ, chiếc xe mô tô không còn giá trị sử dụng; Vách ngăn phòng, cổng không bị hỏng hoàn toàn nên đã tự khắc phục sửa chữa. Bà T1 yêu cầu bồi thường toàn bộ tài sản mà T đã huỷ hoại và làm hư hỏng vào ngày 01/4/2025 với số tiền 8.589.000 đồng, ngày 25/5/2025 bà T1 đã nhận đủ tiền bồi thường. Tại phiên toà giữa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần bồi thường trách nhiệm dân sự là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo T tại phiên tòa thấy bị cáo có hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã X, huyện B, tỉnh Cao Bằng cũ (Nay là thôn Bản Chuồng, xã X, tỉnh Cao Bằng) nhưng bị cáo không sinh sống tại nơi cư trú ổn định thường xuyên đi nay đây mai đó; không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, nhưng không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có thu nhập ổn định, xét thấy không có tính khả thi cho việc thi hành án dân sự, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T theo khoản 5 Điều 178/BLHS là phù hợp.
. Về vật chứng: Các bộ phận của bật lửa ga bao gồm: Bánh xe, đá lửa, ma nhi tô, chắn gió, mảnh vỡ nhựa màu đỏ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A115158 không có giá trị, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Tô Thanh T phạm tội " Hủy hoại tài sản".
[2]. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; Điều 38; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/ Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Tô Thanh T 24 ( Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ bắt tạm giữ 02/4/2025. Không phạt bổ sung bị cáo T theo khoản 5 Điều 178/BLHS.
[3]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các bộ phận của bật lửa ga bao gồm: Bánh xe, đá lửa, ma nhi tô, chắn gió, mảnh vỡ nhựa màu đỏ được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS3A115158.. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Thái Nguyên ngày 27 tháng 7 năm 2025)
[4]. Án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”
[5]. Xử án công khai sơ thẩm bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - THADS tỉnh Thái Nguyên; - VKSND khu vực 7 – Thái Nguyên;; - Bộ phận THAHS -TAND khu vực 7 – Thái Nguyên; - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Cạn |