- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sư sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Kh, Lương Xuân N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HSST Ngày 17/7/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân Thư
Bà Lường Thị Huyền
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Đỗ Diệu Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Thanh Hóa (cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST- HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Quốc Kh - sinh ngày 10/10/2000 tại xã Hoằng S, tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Hoằng S, tỉnh Thanh Hoá; CCCD: 038200015386; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đình Ba và bà Nguyễn Thị Thắm; Có vợ: Lê Thị Tình (đã ly hôn năm 2022), có 01 con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 06/7/2023 Công an huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa phạt tiền theo Quyết định số 58506/QĐ-XPHC về hành vi cố ý gây thương tích, bị cáo chưa chấp quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 16/3/2025 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá. Có mặt tại phiên tòa.
2. Lương Xuân N - sinh ngày 02/6/1988 tại xã Hoằng S, tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Hoằng S, tỉnh Thanh Hoá; CCCD: 038088025209; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lương Quốc Âu và bà Nguyễn Thị Phượng; Có vợ: Lê Thị Ngần (đã ly hôn năm 2017), con: chưa; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2025 đến ngày 16/3/2025 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hoá. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Cao Thị Tình, sinh năm 1975. Có mặt
Địa chỉ: thôn Đoài Thôn, xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Huy Hoàng, Sinh năm 1997. Có mặt
Địa chỉ: thôn Đoài Thôn, xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- Anh Lại Văn Bình, Sinh năm 1990. Có mặt
Địa chỉ: Khu phố Vinh Sơn, xã Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Trần Tuấn Anh, Sinh năm 1971. Có mặt
Địa chỉ: thôn Đoài Thôn, xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Trần Thị Phương, Sinh năm 2009. Có mặt
Địa chỉ: thôn Đoài Thôn, xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Trần Thị Mùi, Sinh năm 1982. Có mặt
Địa chỉ: thôn Thần Xuân, xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Nguyễn Tiến Dũng, Sinh năm 1978. Có mặt
Địa chỉ: thôn Đoài Thôn, xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 03/3/2025, Nguyễn Quốc Kh gặp Lương Xuân N đang đi bộ một mình. Kh than đang nợ nần, không có tiền trả, rồi nói: “…bây giờ chỉ có nước đi ăn trộm mới có tiền”. Cả hai sau đó bàn bạc và rủ nhau trộm cắp tài sản, lựa chọn mục tiêu là nhà chị Cao Thị T cùng thôn để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 08 giờ ngày 04/3/2025, Lương Xuân N đến trước chờ Nguyễn Quốc Kh ở khu vực đầu ngõ vào nhà chị Tình, Kh đến sau. Tại đây, N bảo Kh đi trước còn N đi sau để tránh bị để ý, phát hiện, cả hai bàn bạc sẽ đi đường bê tông rồi vòng lên đê sông Sài (ngay sau nhà bị hại), sau đó đi qua khu ao ruộng ra sau nhà chị Tình rồi dỡ mái ngói, trèo vào nhà trộm cắp tài sản. Cả hai nói chuyện khoảng 01 phút thì Kh đi trước đến góc tường nhà ông Trần Văn Thuỳ (cách đó khoảng 40 mét) đứng nép vào đợi N. Khoảng 02 phút sau thì N cũng đến nơi, quan sát xung quanh thấy vắng người qua lại, nhà chị Tình không có người trong nhà, Kh trèo lên mái ngói (ở khu vực bếp – gian buồng cạnh phòng khách) để gỡ ngói. N đứng dưới cảnh giới và hỗ trợ Kh khi cần. Kh dỡ từng viên ngói rồi xếp chồng lên nhau, đặt luôn trên mái nhà và bờ tường bao cạnh đó, một số ngói đưa xuống cho N vứt xuống đất để tránh gây tiếng động. Đến khoảng 08 giờ 13 phút, khi Kh đang gỡ ngói, thì N có gọi điện thoại cho anh Trần Tuấn A ở cùng thôn rủ đánh bài. Sau khi Kh dỡ được khoảng 20-30 viên ngói trên mái nhà thì lộ ra lớp đan là luồng và kèo không trèo xuống được, Kh lấy chiếc cưa ngay ở dưới vị trí dỡ ngói và cưa thanh luồng để xuống. Cưa một lúc thấy không hiệu quả, Kh nhìn xung quanh tìm kiếm công cụ khác thì thấy trên thành tường bao của chuồng lợn gần đó (cách khoảng 4 mét) có đặt một con dao loại dao thái chặt, đầu bằng, dài khoảng 30cm thì Kh trèo xuống, đi lấy dao rồi trèo lên mái nhà tiếp tục chặt. Chặt được một lúc thì đứt đoạn luồng tạo thành 1 lối mở để vừa người chui xuống dưới nhà. Kh bám tường trèo xuống, vào nhà trước, N vào sau. Sau khi đột nhập được vào bên trong nhà thì Kh và N cùng nhau lục lọi khu vực phòng khách và phòng bếp, phát hiện trong cặp lồng đựng cơm treo trên tường có 08 (tám) chiếc nhẫn vàng các loại (16 chỉ vàng) và 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) loại tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau khi trộm được tài sản, cả hai tẩu thoát theo lối cũ, đến đoạn đường vắng kiểm đếm và chia đôi tài sản theo thoả thuận ban đầu (mỗi người nhận 04 nhẫn vàng, tương đương 07 chỉ và 5.000.000 đồng). Kh về nhà trước, N đi sau. Nguyễn Quốc Kh mang số vàng trộm cắp được về nhà cất giấu, số tiền chiếm đoạt được đã sử dụng hết để trả nợ và chi tiêu cá nhân. Đối với 04 chiếc nhẫn vàng và 5.000.000 đồng do Lương Xuân N chiếm đoạt, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng đến nay chưa thu hồi được.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quốc Kh phát hiện và thu giữ:
+ 02 (hai) nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng có chữ “HUY HOÀNG 33.VINH SƠN 24K 2 CHỈ” có kèm theo tem dán;
+ 01 (một) nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng có đính mặt đá màu đỏ và nhiều viên đá nhỏ không màu ở hai bên mặt nhẫn;
+ 01 (một) nhẫn tròn bằng kim loại màu vàng đã bị cong vênh.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Xuân N: không phát hiện thu giữ gì.
Anh Trần Huy Hoàng, sinh năm 1997 chủ quán điện thoại 1997 Store tại xã Hoằng Đạo, huyện Hoằng Hoá tự nguyện giao nộp số tiền mặt: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là số tiền Nguyễn Quốc Kh trộm cắp được, trả nợ cho Hoàng. Anh Nguyễn Tiến Dũng, sinh năm 1978 ở thôn Đoài Thôn, xã Hoằng Xuyên, huyện Hoằng Hoá tự nguyện giao nộp: 01 (một) đoạn Video đề ngày 04/3/2025 được trích xuất từ Camera của gia đình anh Dũng.
Quá trình điều tra vụ án, ngày 18/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định Trưng cầu giám định kim loại số: 2571/QĐ-CSHS đối với 04 chiếc nhẫn vàng thu được tại Viện khoa học hình sự Bộ Công an. Ngày 27/3/2025, Viện Khoa học hình sự Bộ Công an có Kết luận giám định số: 2482/KL-KTHS, kết luận số nhẫn giám định đều là kim loại vàng (Au) với hàm lượng vàng trên 99%.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hoằng Hoá kết luận: đối với 04 chiếc nhẫn vàng đã thu được có trị giá 64.167.000 đồng; 04 chiếc nhẫn vàng chưa thu được (định giá trên hồ sơ) có trị giá 64.400.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vào ngày 04/3/2025 (bao gồm tiền, vàng) là 138.567.000 đồng.
Ngày 10/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định Trưng cầu giám định gen số: 1293/QĐ-CSHS đối với 04 chiếc nhẫn vàng và số tiền 5.000.000 đồng thu được tại Phòng KTHS Công an tỉnh Thanh Hoá. Ngày 27/3/2025, Phòng KTHS có Kết luận giám định số: 1182/KL-KTHS, kết luận lượng tế bào thu được trên mẫu vật gửi giám định ít nên không xác định được kiểu gen.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 chiếc cặp lồng bằng kim loại, 01 con dao, 01 chiếc cưa, 04 chiếc nhẫn vàng và số tiền 3.000.000 đồng, là tài sản hợp pháp của chị Cao Thị Tình (bị hại), Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Cao Thị Tình đã nhận lại 07 chỉ vàng và 3.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu các bị cáo bồi thường số tài sản còn thiếu gồm 07 chỉ vàng và 7.000.000 đồng. Anh Trần Huy Hoàng yêu cầu Nguyễn Quốc Khánh bồi thường số tiền 3.000.000 đồng mà Khánh đã dùng để trả nợ.
Đối với hành vi dỡ mái ngói và chặt gãy một đoạn luồng trên mái nhà chị Cao Thị Tình để thực hiện hành vi trộm cắp, xét thấy thiệt hại không đáng kể, gia đình bị hại đã tự sửa chữa, khắc phục và không có yêu cầu xử lý hay bồi thường.
Bản cáo trạng số 68/CTr - VKSHH ngày 20 tháng 6 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hoá) đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc Kh, Lương Xuân N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên, sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Quốc Kh (điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự); Bị cáo Lương Xuân N (điểm c khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự). Đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Quốc Kh từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2025. Bị cáo Lương Xuân N từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2025.
Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Kh, N.
*Về dân sự: Căn cứ Điều 584; 585; 586; 587 Bộ luật dân sự.
Đề nghị HĐXX buộc bị cáo Lương Xuân N phải bồi thường cho bị hại 07 chỉ vàng theo giá trị tại thời điểm định giá là 64.400.000đ và 5.000.000 đồng, tổng cộng 69.400.000đ; Bị cáo Nguyễn Quốc Kh tiếp tục bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho bị hại Cao Thị Tình.
* Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đối với 01 chiếc cặp lồng bằng kim loại, 01 con dao, 01 chiếc cưa, 04 chiếc nhẫn vàng và số tiền 3.000.000 đồng, là tài sản hợp pháp của chị Cao Thị Tình (bị hại), Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hoá đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên không xem xét.
Anh Trần Huy Hoàng yêu cầu Nguyễn Quốc Kh bồi thường số tiền 3.000.000 đồng mà Kh đã dùng để trả nợ. Xác định là giao dịch dân sự giữa anh Hoàng và Kh nên yêu cầu anh Hoàng khởi kiện trong vụ án dân sự khác.
Đối với hành vi dỡ mái ngói và chặt gãy một đoạn luồng trên mái nhà chị Cao Thị Tình để thực hiện hành vi trộm cắp, xét thấy thiệt hại không đáng kể, gia đình bị hại đã tự sửa chữa, khắc phục và không có yêu cầu xử lý hay bồi thường. Nên không đề nghị xem xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc Kh, Lương Xuân N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí sân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc Kh thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 68/CT-VKSHH ngày 20/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hoá) đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng. Bị cáo Nguyễn Quốc Kh xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất. Bị cáo Lương Xuân N không khai nhận hành vi phạm tội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hoá), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Khoảng 08 giờ 00 phút đến 08 giờ 25 phút ngày 04/3/2025, lợi dụng sơ hở của gia đình chị Cao Thị Tình ở thôn Đoài Thôn, xã Hoằng Xuyên, huyện Hoằng Hoá (nay là xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hoá), Nguyễn Quốc Kh và Lương Xuân N đã cùng nhau đột nhập trộm cắp 14 chỉ vàng loại vàng 24K (vàng 9999) và số tiền 10.000.000 đồng, tổng trị giá tài sản trộm cắp là 138.567.000đồng.
Như vậy, các bị cáo không chịu lao động, lợi dụng sơ hở của bị hại nên đã đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản trị giá 138.567.000 đồng. Mặc dù bị cáo Lương Xuân N không khai nhận hành vi phạm tội, nhưng căn cứ vào lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị cáo Nguyễn Quốc Kh và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Nguyễn Quốc Kh, Lương Xuân N đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thanh Hoá) truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án: Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, với động cơ tư lợi muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, các bị cáo lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật, hành vi của các bị cáo gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục các bị cáo, giáo dục chung cho xã hội và cần thiết cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo.
. Trong vụ án này, mặc dù có 02 bị cáo cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều là người thực hành, không có sự phân công nhiệm vụ cụ thể. Trong đó, Nguyễn Quốc Kh là người khởi xướng và thực hiện hành vi phạm tội tích cực nên giữ vai trò thứ nhất, tiếp đến Lương Xuân N giúp sức tích cực cùng với Khánh nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án.
. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc Kh đã thành khẩn khai báo về thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đầu thú nên bị cáo Kh được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lương Xuân N không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
.Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Kh và N.
. Về bồi thường thiệt hại: Sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra Công an Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thanh Hoá đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại một số tài sản cho bị hại.
- Trong vụ án này các bị cáo vẫn chưa trả lại được hết tài sản và bồi thường nên bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường như sau: Buộc bị cáo Nam phải bồi thường cho bị hại 07 chỉ vàng tại thời điểm định giá (trị giá 64.400.000đ) và 5.000.000 đồng, tổng cộng 69.400.000đ; Bị cáo Khánh tiếp tục bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho bị hại. Yêu cầu này của bị hại là có cơ sở nên được chấp nhận toàn bộ.
. Về vật chứng: Đối với số tiền 3.000.000 đồng Nguyễn Quốc Kh trả cho anh Trần Huy Hoàng, là số tiền Kh trộm cắp mà có, anh Hoàng đã giao nộp cho Cơ quan điều tra trả lại cho bị hại, anh Hoàng yêu cầu Nguyễn Quốc Kh bồi thường. Do số tiền nợ của anh Hoàng không liên quan đến vụ án nên dành quyền khởi kiện thành một vụ án dân sự khác cho anh Hoàng.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc Kh, Lương Xuân N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Quốc Khánh.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Lương Xuân Nam.
Căn cứ Điều 584; 585; 586; 587, 589 Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc Kh, Lương Xuân N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: 1. Bị cáo Nguyễn Quốc Kh 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2025.
2. Bị cáo Lương Xuân N 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/3/2025.
* Về bồi thường: Buộc các bị cáo còn phải liên đới bồi thường tiếp tục cho bị hại như sau: Buộc bị cáo Lương Xuân N phải bồi thường cho chị Cao Thị Tình 69.400.000 đồng.
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Kh phải tiếp tục bồi thường cho chị Cao Thị Tình số tiền 2.000.000đồng.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Lương Xuân N còn phải chịu thêm 3.470.000đồng án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Nguyễn Quốc Kh còn phải chịu thêm 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa. - VKSND KV4 – Thanh Hóa. - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa. - Cơ quan THA hình sự công an tỉnh Thanh Hóa. - THA dân sự tỉnh Thanh Hóa. - Các bị cáo; Bị hại; người có QL và NV liên quan; - Trại tạm giam công an tỉnh TH; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Phương |