vanban.org

Bản án 04/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Tân X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Tân X 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 12/11/2024). Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 106, 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tân X bị Viện kiểm sát truy tố về tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Tân X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HSST
Ngày 24 - 7 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Kim Cương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Quốc Văn

Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2- Cà Mau

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Minh Chul - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vự 2- Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Tân X, sinh ngày 20/5/1986; nơi cư trú: Ấp 9, xã TB, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Đ (còn sống) và bà Lý Thị S (còn sống); có vợ: Lê Hồng T; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2021 nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Cho đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, chưa có án tích hay bị xử phạt, xử lý vi phạm hành C; tạm giữ ngày 17/8/2024; tạm giam 20/8/2024; bảo lĩnh ngày 12/11/2024 cho đến nay. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Quách Ngọc L, sinh năm 1988 – là Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1961 (có mặt) Địa chỉ cư trú: Ấp 10, xã TB, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 16/8/2024 trên đường đi làm về nhà thì Lê Tân X có gặp ông Đào Thanh Sơn tại khu vực ấp 9, xã Thới Bình. Sau đó ông S rủ X về nhà ông S nhậu với một số người quen khác. Đến 19 giờ cùng ngày, khi uống được 04 lon bia thì X nghỉ nhậu, X đi nhờ xe máy của ông Lê Văn H về nhà, khi đến đoạn đường lộ xi măng gần khu vực ngã tư kênh Trại Trú – Bà Chủ thuộc ấp 9, xã Thới Bình thì ông H dừng lại cho X xuống xe. Sau đó X bị ảo giác cho rằng có người rượt đuổi mình nên chạy bộ đến địa phận ấp 10, xã TB, thấy cửa cổng nhà bà Nguyễn Thị C đang mở, X liền chạy vào nhà ngồi trên bộ ván ở hành lang bên hông nhà bà C để trốn. Đến 19 giờ 30 phút bà C cùng chồng là ông Huỳnh Văn L và con là Huỳnh Gia H mở của hông nhà thì phát hiện X ở bộ ván trước cửa. Bà C hỏi X sao lại vào nhà mình thì X trả lời thấy bị rượt đánh nên chạy vào đây trốn. Do nghi ngờ X có hành vi trộm cắp nên bà C liên tục yêu cầu X ra khỏi nhà mình và nói X không đi bà sẽ trình báo công an. Nghe bà C nói báo công an nên X đi vào khu bếp nhà bà C lấy cây dao dài 22,5cm (loại dao Thái Lan) cầm trên tay rồi đi ngược ra, H nhìn thấy X cầm dao nên la lên cho bà C bỏ chạy thì X đuổi theo kịp, X dùng tay trái nắm đè bà C ngã xuống nền gạch và đâm vào người bà C 03 nhát gây thương tích. Sau đó bà C nắm tay H cùng bỏ chạy ra trước nhà tri hô và được ông Luốc đưa đi bệnh viện để cấp cứu điều trị. Sau khi đâm bà C gây thương tích X ném bỏ dao xuống khu vực ao cặp nhà bà C rồi lẫn trốn ra khu vực vuông tôm. Đến 22 giời 10 phút cùng ngày X trình báo công an xã Thới Bình.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 216/KLTTCT-TTPY ngày 19/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: 01 vết thương vùng ngực phải kích thước 1,8cm x 0,2cm: 01%, Do vật sắc hoặc sắc nhọn gây ra; 01 vết thương vùng lưng trái kích thước 1,5cm x 0,1cm: 01%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; 01 vết thương khoảng liên sườn 4,5 đường nách giữa bên trái kích thước 01cm x 0,2cm: 01%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị C tại thời điểm giám định là 03%.

Tại kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 253/KLTTCT-TTPY ngày 17/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau kết luận: Vết dẫn lưu khoảng liên sườn V đường nách giữa bên phải kích thước 1,7cm x 0,4cm: 01%; Tràn dịch màng phổi phải: 05%. Do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra; Xẹp thủy dưới phối phải tại thời điểm giám định không có căn cứ do thương tích gây ra, không xếp tỷ lệ %. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị C tại thời điểm giám định là 06%.

Kết luận khác: Thương tích tràn dịch màng phổi phải do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động gây vết thương thành ngực phải làm tổn thương màng phổi thành phải gây ra tràn dịch màng phổi phải; Cây dao gửi giám định gây ra được các thương tích đã mô tả; thương tích trên cơ thể bà C là tổn thương phần mềm và màng phổi, không tổn thương nhu mô phôi, tim và các cơ quan nội tạng khác. Mũi dao của cây dao gửi giám định gây tổn thương màng phổi thành, không có căn cứ xác định mũi dao vào bao nhiêu cm so với bề mặt cơ thể; tại thời điểm giám định căn cứ vào các hồ sơ y tế có liên quan do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình cung cấp và khám giám định trực tiếp trên cơ thể bà Nguyễn Thị C có các thương tích và vết thương thành ngực phải kích thước 1,8cm x 0,2cm gây tràn dịch màng phổi lượng vừa nếu thương tích trên không được xử lý kịp thời và đúng cách có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng bà Nguyễn Thị C; tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại bản Kết luận số 216/KLTTCT-TTPY ngày 19/8/2024 và Giám định bổ sung là 09%

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 527/2024 KLGĐ ngày 09/12/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận Lê Tân X: Trước, trong, sau khi vụ án xảy ra ngày 16/8/2024 và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn loạn thần do sử dụng rượu (F10.5-ICD10); Nguyên nhân hình thành bệnh Rối loạn loạn thần do sử dụng rượu: Là do hậu quả tác động trực tiếp kéo dài của rượu lên não gây nên các biến đổi về nhận thức, cảm xúc, hành vi sau thời gian các triệu chứng không mất đi mà còn tồn tại. Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi: Tại thời điểm vụ án xảy ra ngày 16/8/2024 và hiện tại: Đương sự mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, do có ảo giác trực tiếp chi phối hành vi

Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu (sau thời gian bắt buộc chữa bệnh) số 93/2025 KLGĐ ngày 20/3/2025 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận: Lê Tân X bị bệnh rối loạn loạn thần do sử dụng rượu (F10.5-ICD10). Hiện tại, bệnh đã ổn định, không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và cho rằng trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đã đầu thú; gia đình bị cáo thuộc diện gia đình có công với cách mạng; bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; khoản b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 01 năm tù. Nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 02 năm. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại những khoản đã thỏa thuận được giữa bị cáo với bị hại về khoản chi phí điều trị số tiền 26.000.000 đồng. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ cây dao tổng chiều dài 22,5cm, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, phần lưỡi dao dài 12cm bằng kim loại màu trắng sáng, có mũi nhọn sắc bén, đã qua sử dụng.

Lời trình bày của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất nội dung cáo trạng, và tội danh cùng lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Đồng thời, người bào chữa cho bị cáo cũng thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng theo đề nghị của đại viện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại các khoản chi phí điều trị tổng cộng là 35.000.000 đồng, đã bồi thường 9.000.000 đồng, tiếp tục bồi thường 26.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vết thương của bà Nguyễn Thị C thể hiện tại các bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống; giấy chứng nhận thương tích và phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ từ đó có đủ cơ sở khẳng định:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 16/8/2024, sau khi uống bia xong Lê Tân X xảy ra ảo giác cho rằng có người rượt đuổi đánh nên chạy vào nhà bà Nguyễn Thị C ở ấp 10, xã Thới Bình, tỉnh Cà Mau để trốn, thì bị bà C xua đuổi, tức giận X lấy dao dài 22,5cm là hung khí nguy hiểm đâm bà C 03 nhát gây thương tích, giám định với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, mặc dù bị cáo có bệnh tâm thần “Rối loạn loạn thần do sử dụng rượu (F10.5-ICD10)” mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi do có ảo giác trực tiếp chi phối hành vi nhưng nguyên nhân hình thành bệnh lý tâm thần dẫn đến mất khả năng điều khiển hành vi của X là do X sử dụng rượu bia vào ngày xãy ra vụ án. Vì vậy, X vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Nên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê Tân X đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương, nên phải xử lý nghiêm để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đã đầu thú; gia đình bị cáo thuộc diện gia đình có công với cách mạng, bị cáo có ông Nội là ông Lê Văn Ba được Nhà nước tặng thưởng “ Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạn nhì”; bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát đề nghị xử phạt từ 06 tháng tù đến 01 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, phù hợp với nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo nên được chấp nhận. Tuy nhiên, dù có giảm nhẹ nhưng cũng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo cải sửa lỗi lầm, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại bà C yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản: Chi phí điều trị theo toa vé, chi phí đi lại do phải nằm viện tổng cộng là 35.000.000đ. Bị cáo đã bồi thường, khắc phục cho bị hại được 9.000.000 đồng, số tiền còn lại là 26.000.000 đồng. Xét thấy, tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại các khoản chi phí nói trên theo yêu cầu bị hại, việc bồi thường là tự nguyện của bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Xét thấy, cây dao tổng chiều dài 22,5cm, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, phần lưỡi dao dài 12cm bằng kim loại màu trắng sáng, có mũi nhọn sắc bén, đã qua sử dụng đây là hung khí bị cáo dùng gây thương tích cho bị hại, bị hại không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối trên số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 26.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Tân X phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Tân X 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến ngày 12/11/2024).

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 106, 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Lê Tân X bồi thường thiệt do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Nguyễn Thị C tổng số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng chẵn).

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị C có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo phải thanh toán xong khoản tiền nêu trên, nếu không thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tịch thu tiêu huỷ 01 cây dao chiều dài 22,5cm, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 10,5cm, phần lưỡi dao dài 12cm bằng kim loại màu trắng sáng, có mũi nhọn sắc bén, đã qua sử dụng. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 1.300.000 đồng (tất cả chưa nộp).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ