- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì A S và Bùi Hoàng A - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản an số: 04/2025/HSPT Ngày 16 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Kim Liên.
Các thẩm phán: Ông Vũ Văn Nghĩa, bà Lại Thị Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Nhật Mai - Thư ky Toa an nhân dân tinh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tinh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sat viên.
Ngày 16 thang 01 năm 2025, tại trụ sở Toa an nhân dân tinh Sơn La xét xử công khai vụ an hình sự phúc thẩm thụ ly số: 07/2024/TLPT-HS ngày 30 thang 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ an ra xét xử số: 45/2024/QĐPT-HS, ngày 06 thang 01 năm 2025. Do có khang cao của cac bị cao Vì A S, Bùi Hoàng A đối với Bản an hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toa an nhân dân huyện M, tinh Sơn La.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Vì A S, sinh ngày 03/5/1995 tại thành phố S, tinh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện M, tinh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mông; giới tinh: Nam; tôn giao: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phai, đoàn thể: không; con ông Vì A X và bà Hà Thị Minh P; bị cao có vợ là Mùi Thị T, sinh năm 1995, có 01 con sinh năm 2020; tiền an: Không; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay. Có mặt.
2. Bùi Hoàng A, sinh ngày 20/9/1994 tại thành phố Sơn La, tinh Sơn La; nơi đăng ki hộ khẩu thường trú: Tổ 11, phường Q, thành phố Sơn La, tinh Sơn La; nơi ở: Tiểu khu I, thị trấn M2, huyện M, tinh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tinh: Nam; tôn giao: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phai, đoàn thể: không; con ông Bùi Quang C và bà Trần Hồng Quế; bị cao có vợ là Lường Thị Thanh H, sinh năm 2000, có 01 con sinh năm 2021; tiền an: Không; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay. Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Chinh K, sinh năm: 1984, nơi cư trú: Số 150 TB, phường ML, quận HĐ, Thành phố HN. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ngoài ra còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo Tòa án không triệu tập:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Hà Thị Minh P, sinh năm 1970; nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện M, tinh Sơn La.
+ Chị Lường Thị Thanh H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ 11, phường Q, thành phố S, tinh Sơn La.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Hoàng A và Vì A S cùng là nhân viên làm việc tại Công ty trach nhiệm hữu hạn TMP, có trụ sở tại tiểu khu 10, thị trấn M2, huyện M từ thang 8 năm 2019, công việc là tìm khach hàng có nhu cầu môi giới bất động sản và tư vấn thủ tục đất đai. Đến thang 4/2022, Bùi Hoàng A và Vì A S nghi làm việc ở Công ty và tach ra cùng nhau kết hợp tự làm môi giới bất động sản và tư vấn cac thủ tục liên quan đến đất đai cho khach hàng, thuê phong trọ tại khu vực thị trấn NTMC để sinh sống. S và A thỏa thuận S là người tìm kiếm khach hàng, con A là người thực hiện cac thủ tục liên quan đến đất đai.
Thang 9/2022, anh Nguyễn Chinh K mua diện tich đất 3500 m2 tại tiểu khu 19/5, thị trấn NTMC, huyện M, do mảnh đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên anh K đã đăng thông tin lên mạng xã hội Facebook tìm người làm giúp thủ tục. Vì A S đọc thấy thông tin anh K đăng lên mạng xã hội nên đã lấy số điện thoại của anh K trên mạng để liên lạc với anh K, S giới thiệu tên là Vì A S và nói với anh K có thể làm được thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh K, anh K đã đồng y. Sau đó Vì A S nói với Bùi Hoàng A việc anh Nguyễn Chinh K có nhu cầu tìm người làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một mảnh đất tại tiểu khu 19/5, thị trấn NTMC, huyện M, tinh Sơn La. Sau khi nghe S nói vậy thì A nói với Sinh cứ nhận làm cho anh K, sau đó S và A sẽ thỏa thuận về gia và ky hợp đồng ủy quyền.
Đến ngày 16/10/2022, sau khi thỏa thuận, anh K và S thống nhất: "K ủy quyền cho S làm mọi thủ tục liên quan đến việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất tại tiểu khu 19/5, thị trấn NTMC tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện M, thời hạn ủy quyền là 06 tháng, từ 16/10/2022 đến ngày 16/4/2023 với số tiền là 460.000.000 đồng". Anh K cung cấp thông tin, bản trich đo thửa đất, bản photo giấy chuyển nhượng đất cho S. Anh K trả trước cho S số tiền 200.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản Techcombank số 19033702065018 của anh K đến số tài khoản 2550103051995 của Vì A S mở tại ngân hàng B Bank, số tiền con lại K sẽ thanh toan khi hoàn thành hợp đồng. S và A thỏa thuận A sẽ trực tiếp cầm tài liệu của anh K và chịu trach nhiệm chinh nên số tiền anh K chuyển trước cho S thì S sẽ chuyển cho A là 175.000.000 đồng, S giữ lại số tiền 25.000.000 đồng. S đã chuyển số tiền 170.000.000 đồng cho A bằng hình thức chuyển vào tài khoản MB Bank của vợ A là chị Lường Thị Thanh H có số tài khoản 7850187686888 và đưa 5.000.000 đồng tiền mặt cho A.
Sau khi ky hợp đồng với anh K thì Sinh và A đã không thực hiện cac công việc theo thỏa thuận, không tiến hành cac thủ tục để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh K. Đến cuối thang 10/2022, A thuê anh Phạm Trọng O (O không có thẩm quyền trong việc đo đạc đất) tiến hành đo đạc mảnh đất của anh K tại Tiểu khu 19/5, thị trấn NTMC, huyện M với tiền công là 1.500.000 đồng. A nhờ anh O hỏi về tinh phap ly của mảnh đất thì được anh O cho biết mảnh đất trên thuộc đất NT và một phần đất rừng nên không thể cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, A và S không thực hiện cac thủ tục nào liên quan đến xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất của anh K, toàn bộ số tiền con lại đã nhận của anh K thì Sinh đã sử dụng để chi tiêu ca nhân, con A sử dụng mua 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro, Tivi, tủ lạnh... để A sử dụng. Đến thời hạn của hợp đồng, anh K không thấy S cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã thống nhất nên đã gặp S và A để hỏi nhưng S và A không nói cho anh K biết về việc diện tich đất không thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được mà tiếp tục đưa ra thông tin gian dối là vẫn có thể cấp được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, anh K đã nhiều lần gọi điện cho Sinh và A, tuy nhiên S và A đưa ra nhiều ly do về việc đang tiếp tục làm thủ tục để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau nhiều lần trì hoãn, biết bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên ngày 06/5/2024, anh K trình bao sự việc đến Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an huyện M.
Qua trình điều tra, Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an huyện M đã tiến hành xac minh việc lập hồ sơ để thực hiện cac thủ tục đăng ky cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Chinh K. Kết quả tại Phong Tài nguyên và Môi trường xac định chưa nhận được hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh K tại Tiểu khu 19/5, thị trấn NTMC từ Vì A S hay bất kỳ ai. Mảnh đất tại Tiểu khu Y chưa được quy chủ, chưa được cấp bìa. Thửa đất 580 quy hoạch đất nông nghiệp (NKH), thửa 581 quy hoạch đất nông nghiệp và một phần đất rừng (RST). Hai thửa đều nằm trong diện tich đất của Công ty cổ phần Giống bo sữa bàn giao cho Ủy ban nhân dân huyện M, hiện đang xây dựng phương an sử dụng đất. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả huyện M xac định: Từ ngày 16/10/2022 đến ngày 29/5/2024 qua tra cứu trên phần mềm, không có hồ sơ đăng ky cấp bìa từ anh Nguyễn Chinh K hoặc Vì A S. Chi nhanh Văn phong đăng ky đất đai của huyện M không tiếp nhận hồ sơ, tài liệu nào liên quan đến diện tich đất của anh Nguyễn Chinh K.
Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an huyện M đề nghị Hạt kiểm lâm Mộc Châu xac định diện tich đất của anh Nguyễn Chinh K có nằm trong diện tich rừng hay không? Ngày 01/7/2024 Hạt kiểm lâm huyện M xac định: Tổng diện tich đo đạc 3.468,8m2, gồm 02 thửa đất (thửa 01 có diện tich là 1.212m2, thửa 02 có diện tich là 2.256,8m2). Diện tich khu vực đo đạc không nằm trong diện tich rừng. Diện tich thửa số 01 có diện tich là 1.212m2 thuộc quy hoạch rừng sản xuất. Diện tich thửa số 02 có diện tich là 1.099,6m2 thuộc quy hoạch rừng sản xuất.
Ngày 14/5/2024, Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an huyện M đã tạm giữ của Bùi Hoàng A 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro do A sử dụng số tiền chiếm đoạt của anh K để mua chiếc điện thoại. Ngày 02/7/2024, Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an huyện M yêu cầu định gia tài sản đối với chiếc điện thoại Iphone 14 Pro thu giữ của Bùi Hoàng A. Tại kết luận định gia tài sản ngày 05/7/2024 của Hội đồng định gia tài sản trong tố tụng huyện M kết luận chiếc điện thoại có gia trị 14.000.000 đồng. Đối với những đồ vật như tủ lạnh, điều hoà A sử dụng số tiền lừa đảo để mua và sử dụng tại phong trọ, sau đó A đã ban đi nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Cơ quan Cảnh sat điều tra Công an huyện M đã xac minh cac tài khoản giao dịch chuyển tiền tại ngân hàng Techombank, ngân hàng BIDV và ngân hàng MB xac định: Tài khoản số 19033702065018 mang tên Nguyễn Chinh K. Sao kê từ ngày 16/10/2022 đến ngày 30/10/2022 như sau: Ngày 17/10/2024 chuyển tiền đặt cọc tới tài khoản của Vì A S, số tiền 200.000.000 đồng. Xac nhận của ngân hàng MB về số tài khoản 2550103051995 là của Vì A S, số tài khoản 7850187686888 là của Lường Thị Thanh H. Cung cấp lịch sử giao dịch của tài khoản 7850187686888 từ ngày 16/10/2022 đến ngày 16/11/2022: Ngày 17/10/2022 nhận tiền từ tài khoản Vì A S, số tiền 170.000.000 đồng. Xac định của ngân hàng BIDV số tài khoản 4110474080 là của Bùi Hoàng A.
Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu Phong Kỹ thuật hình sự Công an tinh Sơn La giam định đối với chữ ky trong hợp đồng ủy quyền do anh Nguyễn Chinh K cung cấp, kết luận giam định xac định:
“1. Chữ ký mang tên Bùi Hoàng A, dưới mục “NGƯỜI LÀM CHỨNG" trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Bùi Hoàng A trên mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký ra.
2. Chữ ký mang tên Vì A S, dưới mục “BÊN B” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký của Vì A S trên mẫu so sánh ký hiệu M2 là do cùng một người ký ra”.
Ngày 13/6/2024 Cơ quan điều tra quyết định trung cầu Phong Kỹ thuật hình sự Công an tinh Sơn La giam định đối với đoạn video do Nguyễn Chinh K cung cấp về qua trình cac bên lập hợp đồng, kết quả giam định xac định: “Đoạn video gửi giam định không bị cắt ghép, chinh sửa nội dung".
Vật chứng thu giữ:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu tim thu giữ của bị cao Bùi Hoàng A.
Về trach nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Chinh K yêu cầu Bùi Hoàng A và Vì A S phải bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 220.000.000 đồng, trong đó 200.000.000 đồng là tiền A và S đã chiếm đoạt và 20.000.000 đồng là tiền yêu cầu Sinh và A phải bồi thường cho anh K do làm mất sơ đồ trich đo mảnh đất của anh K và chi phi anh K đi lại trong thời gian S và A thực hiện hợp đồng. Ngày 26/8/2024, đại diện gia đình Bùi Hoàng A và gia đình Vì A S đã bồi thường cho Nguyễn Chinh K số tiền 220.000.000 đồng, trong đó gia đình Bùi Hoàng A bồi thường số tiền 185.000.000 đồng, gia đình Vì A S bồi thường tiền 35.000.000 đồng. Anh Nguyễn Chinh K đã nhận tiền và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho cac bị cao.
Cao trạng số: 187/CT-VKS ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sat nhân dân huyện M truy tố cac bị can Vì A S, Bùi Hoàng A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản an hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toà an nhân dân huyện M, tinh Sơn La đã xét xử và Quyết định:
- Căn cứ điểm a khoản 3, 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cao Vì A S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cao Vì A S 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù của bị cao tinh từ ngày 06/8/2024. Phạt bổ sung đối với bị cao Vì A S số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Căn cứ điểm a khoản 3, 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cao Bùi Hoàng A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cao Bùi Hoàng A 02 (Hai) năm, 06 (Sau) thang tù. Thời hạn tù của bị cao tinh từ ngày 06/8/2024. Phạt bổ sung đối với bị cao Bùi Hoàng A số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Ngoài ra bản an con tuyên về trach nhiệm dân sự, xử ly vật chứng, an phi hình sự sơ thẩm, quyền khang cao cho bị cao, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của phap luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 01/12/2024 cac bị cao Bùi Hoàng A, Vì A S khang cao đối với Bản an hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toà an nhân dân huyện M. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên toà phúc thẩm: Cac bị cao Bùi Hoàng A, Vì A S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bổ sung nội dung khang cao là và cho cac bị cao hưởng an treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tinh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Bản an hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toa an nhân dân huyện M xét xử cac bị cao Bùi Hoàng A, Vì A S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng phap luật.
Bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A cùng bàn bạc, lên kế hoạch để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Trong đó, bị cao Vì A S là người chủ động liên lạc với bị hại để chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng, bị cao Sinh được nhận 25.000.000 đồng, bị cao Bùi Hoàng A được nhận 175.000.000 đồng trong số tiền chiếm đoạt được. Hành vi của cac bị cao mang tinh chất đồng phạm giản đơn.
Tại phiên toa phúc thẩm, gia đình cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A cung cấp thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn xin bảo lãnh cho cac bị cao hưởng an treo có xac nhận của chinh quyền địa phương thể hiện cac bị cao phạm tội lần đầu, ngoài lần phạm tội luôn chấp hành nghiêm chinh đường lối, chủ trương của Đảng, chinh sach phap luật của nhà nước. Bị cao Vì A S, Bùi Hoàng A là lao động chinh trong gia đình, con con nhỏ, vợ không có công việc, thu nhập ổn định. Cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung và an phi dân sự sơ thẩm là 10.200.000đ theo quyết định của Bản an hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toà an nhân dân huyện M tại Chi cục Thi hành an dân sự huyện M. Đây là cac tình tiết giảm nhẹ trach nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy cac bị cao có đủ điều kiện ap dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng an treo theo quy định Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3, 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Chấp nhận khang cao của cac bị cao: Sửa bản an sơ thẩm theo hướng chuyển hình phạt tù sang hình phạt tù cho hưởng an treo và ấn định thời gian thử thach đối với cac bị cao là 05 (năm) năm.
Trả tự do cho cac bị cao ngay tại phiên toa nếu không bị tạm giữ, tạm giam về một tội khac.
Cac bị cao nhất tri không có y kiến tranh luận thêm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng an treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ an, căn cứ vào cac tài liệu có trong hồ sơ vụ an đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/12/2024 cac bị cao Bùi Hoàng A, Vì A S có đơn khang cao. Xét đơn khang cao trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể và phạm vi khang cao nên vụ an được giải quyết theo trình tự phúc thẩm theo quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về sự vắng mặt của bị hại anh Nguyễn Chinh K. Toa an đã triệu tập hợp lệ, anh K có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định.
Xét hành vi phạm tội của cac bị cao: Tại phiên toa phúc thẩm cac bị cao đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cao tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cao trong qua trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm và cac tài liệu, chứng cứ khac được thu thập hợp phap trong hồ sơ vụ an, vì vậy có đủ cơ sở xac định:
Vào cuối năm 2022, khi biết anh Nguyễn Chinh K có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Vì A S và Bùi Hoàng A lợi dụng sự thiếu hiểu biết của anh K đã đưa ra thông tin gian dối về việc có thể làm được thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất của anh K. Anh K đã tin tưởng, ky hợp đồng ủy quyền cho Vì A S làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển cho Sinh số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Vì A S và Bùi Hoàng A không thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh K, số tiền 200.000.000 đồng đã nhận của anh K thì Sinh và A đã chiếm đoạt để chi tiêu, sử dụng ca nhân.
Toa an cấp sơ thẩm xét xử cac bị cao về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Xét khang cao xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng an treo của cac bị cao, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Về nhân thân: Cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A đều chưa có tiền an, tiền sự, phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trach nhiệm hình sự.
Trong vụ an cac bị cao phạm tội đồng phạm giản đơn, cùng bàn bạc, lên kế hoạch để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Trong đó, bị cao Vì A S là người chủ động liên lạc với bị hại để chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng, bị cao Sinh được nhận 25.000.000 đồng, bị cao Bùi Hoàng A được nhận 175.000.000 đồng trong số tiền chiếm đoạt được.
Toa an cấp sơ thẩm đã ap dụng cac tình tiết giảm nhẹ trach nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cao Vì A S hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt là 03 (ba) năm tù và bị cao Bùi Hoàng A 02 (hai) năm 06 (sau) thang tù là phù hợp với tinh chất, mức độ phân hóa vai tro, cac tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của cac bị cao.
Tại phiên toa phúc thẩm, gia đình cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A cung cấp thêm đơn xin giảm nhẹ hình phạt, đơn xin bảo lãnh cho cac bị cao hưởng an treo có xac nhận của chinh quyền địa phương thể hiện cac bị cao phạm tội lần đầu, ngoài lần phạm tội luôn chấp hành nghiêm chinh đường lối, chủ trương của Đảng, chinh sach phap luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Cac bị cao có nơi cư trú rõ ràng, đều là lao động chinh trong gia đình, con con nhỏ, vợ không có công việc, không có thu nhập ổn định; bố bị cao Vì A S là ông Vì A X bị tai biến mất khả năng vận động, không tự phục vụ cần có người chăm sóc, mẹ đẻ bị cao Vì A S thường xuyên đau ốm; cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung và an phi dân sự sơ thẩm là 10.200.000đ theo quyết định của Bản an hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toà an nhân dân huyện M tại Chi Cục Thi hành an dân sự huyện M là cac tình tiết giảm nhẹ trach nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A có đủ điều kiện ap dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Việc chuyển biện phap chấp hành hình phạt tù cho cac bị cao được hưởng an treo, cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để răn đe, giao dục đối với cac bị cao và việc cho cac bị cao được hưởng an treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, đồng thời thể hiện chinh sach khoan hồng của Nhà nước. Quan điểm giải quyết vụ an của Kiểm sat viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận khang cao của cac bị cao, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho cac bị cao được hưởng an treo, ấn định thời gian thử thach và trả tự do cho cac bị cao ngay tại phiên toa nếu không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khac là có căn cứ.
Từ những nhận định, đanh gia nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận khang cao của cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A: sửa một phần Bản an hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toà an nhân dân huyện M, tinh Sơn La.
Về an phi phúc thẩm:
Cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A không phải chịu an phi hình sự phúc thẩm do khang cao được chấp nhận.
Cac quyết định khac của Bản an sơ thẩm không có khang cao, không bị khang nghị có hiệu lực phap luật kể từ ngày hết thời hạn khang cao, khang nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận khang cao của cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A; sửa một phần Bản an hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toà an nhân dân huyện M, tinh Sơn La như sau:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 3,5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1.1. Xử phạt bị cao Vì A S 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng an treo. Thời gian thử thach là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên an phúc thẩm (ngày 16/01/2025).
Trả tự do cho bị cao Vì A S tại phiên toa nếu không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khac.
Giao bị cao Vì A S cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tinh Sơn La giam sat, giao dục. Gia đình bị cao có trach nhiệm phối hợp với chinh quyền địa phương trong việc giam sat, giao dục bị cao trong thời gian thử thach.
1.2. Xử phạt bị cao Bùi Hoàng A 02 (hai) năm 06 (sau) thang tù nhưng cho hưởng an treo. Thời gian thử thach là là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên an phúc thẩm (ngày 16/01/2025).
Trả tự do cho bị cao Bùi Hoàng A tại phiên toa nếu không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khac.
Giao bị cao Bùi Hoàng A cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S giam sat, giao dục. Gia đình bị cao có trach nhiệm phối hợp với chinh quyền địa phương trong việc giam sat, giao dục bị cao trong thời gian thử thach.
Trường hợp người được hưởng an treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành an hình sự 2019.
Trong thời gian thử thach, nếu người được hưởng an treo cố y vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Điều 87 của Luật Thi hành an hình sự, thì Toa an có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản an đã cho hưởng an treo. Trường hợp bị cao thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thach thì Toa an buộc bị cao phải chấp hành hình phạt tù của bản an trước và tổng hợp với hình phạt của bản an mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về an phi phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản ly và sử dụng an phi, lệ phi Toa an:
Cac bị cao Vì A S và Bùi Hoàng A không phải chịu an phi hình sự phúc thẩm.
3. Cac quyết định khac của Bản an hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 26 thang 11 năm 2024 của Toà an nhân dân huyện M, tinh Sơn La không có khang cao, không bị khang nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn khang cao, khang nghị.
Bản an hình sự phúc thẩm có hiệu lực phap luật kể từ ngày tuyên an (ngày 16/01/2025).
| Nơi nhận: - Viện kiểm sat nhân dân tinh Sơn La; - Toa an nhân dân huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - UBND xã T , huyện M; - UBND phường Q, thành phố Sơn La; - Bị cao; - Bị hại; - Phong KTNV&THA; - Lưu hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ky) Điêu Thị Kim Liên |