vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh T phạm tội gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUÂN CHỦNG HẢI QUÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày 07/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN CHỦNG HẢI QUÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: 2// Phạm Thị Thanh Thủy.

Các Hội thẩm quân nhân:

1// Cao Tiến Dũng;

4/ Phạm Minh Tú.

- Thư ký phiên toà: 1/ Phạm Cao Sơn - Thư ký Tòa án quân sự Khu vực Quân chủng Hải quân.

.

- Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 2 Quân chủng Hải quân tham gia phiên toà: 2// Nguyễn Trung Đang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Trại giam X, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, Tòa án quân sự khu vực Quân chủng Hải quân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Minh T, tên gọi khác: M; sinh ngày 26 tháng 4 năm 2003 tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tiểu đoàn D, Trung tâm H3, Bộ tư lệnh V; cấp bậc, chức vụ, đơn vị hiện nay: Trung sỹ, Tiểu đội trưởng, Tiểu đoàn D, Trung tâm H3, Bộ tư lệnh V; trình độ văn hoá: Lớp 9; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị G; vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật lần nào; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thành C: vắng mặt;

2. Lê Văn T1: có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 ngày 22/8/2022, Phạm Minh T cùng nhóm bạn gồm Bùi Thanh H, Huỳnh Hữu P, Lê Văn T1, Nguyễn Thành C ăn bánh xèo tại quán L1 thuộc thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định. Trong lúc đang ăn, Lê Hoài K và Nguyễn Vĩnh H1 chạy xe đến quán và kể lại việc mâu thuẫn và hẹn đánh nhau với Đoàn Thanh K1 (tên gọi khác là N) cho T và H, P, T1, C cùng nghe, đồng thời rủ cả nhóm giúp K đi đánh nhau, T và mọi người đều đồng ý. Sau đó, H1 chở K đi rủ thêm người và chuẩn bị hung khí còn T cùng H, P, T1, C vẫn tiếp tục ăn tại quán.

Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày T và H, P, T1, C đi trên hai xe mô tô đến khu nghĩa địa N để tụ tập với nhóm của K. Tại đây T gặp khoảng hơn 20 người khác là bạn của K. Nhóm của K đã chuẩn bị khoảng 10 đến 12 cây phảng và 01 con “dao mèo” để làm hung khí đi đánh nhau. H và C lấy mỗi người một cây phảng để dưới đất làm công cụ đi đánh nhau. Khoảng 05 phút sau, K nói cả nhóm quay lại ngã ba cây xăng Đ thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện T tìm đánh nhóm của K1. T và tất cả những người trong nhóm đều đồng ý. K cầm phảng ngồi sau xe mô tô do H1 điều khiển dẫn đường cho cả nhóm đi tìm đánh K1, trong đó có T điều khiển xe mô tô chở C cầm một cây phảng ngồi sau. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/8/2022, khi K1 đang đứng nói chuyện cùng với Cao Lâm V, Lê Nguyệt H2, Nguyễn Thị Thùy T2, Đào Văn K2 trên vỉa hè đối diện cây xăng Đ, khi thấy nhóm của K đến, K1 và V bỏ chạy xuống đường bê tông gần đó trốn, còn K2, T2 và H2 vẫn đứng tại chỗ. Cả nhóm của K chạy đến bao vây, định đánh K2, T2 và H2 thì được Nguyễn Ngọc T3 đứng ra can ngăn nên nhóm K dừng lại. Nhóm K quay trở lại xe đứng tập trung tại ngã ba cây xăng Đ. Khi thấy anh Đỗ Anh P1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH đang đi đến thì K hô to “hú”, P1 dừng xe lại. Nhóm K cầm hũng khí đi đến chỗ anh P1, nói chuyện qua lại K bực tức dùng phảng chém một nhát trúng vào phần đuôi mày mắt phải của P1, P1 bỏ xe lại chạy vào sân nhà V, K đuổi theo dùng phảng chém nhiều nhát vào chân P1 cho đến khi P1 trèo lên được chuồng gà chạy thoát được. K trở ra ngoài, thấy xe mô tô của P1 ngã nằm trên đường, K dùng phảng chém vào xe môtô của P1 đến khi được những người trong nhóm can ngăn K mới dừng lại. Sau đó cả nhóm giải tán, T chở C và T1 về phòng trọ của T1.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Minh T khai nhận: Khi ngồi ăn bánh xèo tại quán L1, H, P1, C, T1 đã nhận lời giúp K đi đánh nhau với N. Đến khoảng hơn 22 giờ ngày 22/8/2022 bị cáo đã cùng H, P1, C, T1 đi đến nghĩa địa N, tại đây bị cáo thấy có K và khoảng 19 đến 20 thanh niên lạ mặt, có người đang cầm phảng trên tay và dưới đất còn nhiều phảng, bị cáo thấy C xuống cầm một cây phảng. Rồi cả nhóm theo lệnh của K đi lên thị trấn T, bị cáo điều khiển xe mô tô chở C cầm phảng ngồi sau cùng cả nhóm đi lên thị trấn T để tìm N để đánh. Khi đến ngã ba cây xăng Đệ nhất, khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/8/2022, sau khi rượt đuổi đánh N không được, bị cáo thấy có một thanh niên điều khiển một chiếc xe mô tô SH màu trắng đi từ hướng ngã tư T xuống Q và dừng xe giữa đường. Bị cáo thấy K cầm phảng, C cầm phảng cùng cả nhóm đi đến đứng bao vây người thanh niên này. Bị cáo ngồi trên xe dựng gần đó. Bị cáo quan sát thấy K đứng nói chuyện với thanh niên này rồi thấy người thanh niên này bỏ xe chạy vào hướng nhà dân rồi K và một số người trong nhóm chạy đuổi theo, nhóm người còn lại cầm phảng đứng ở trên đường trước nhà dân. Một lúc sau, bị cáo thấy K quay lại đi đến chổ xe SH dùng một cây phảng chém nhiều nhát vào chiếc xe, mọi người đến can ngăn nên K không chém nữa và bỏ đi. Bị cáo chở C và T1 về nhà trọ của T1 ở chợ D. Chiếc xe mô tô BKS 77L1-268.36 mà bị cáo điều khiển trong đêm ngày 22/8/2022 là của bố bị cáo, ông không biết việc bị cáo sử dụng xe này làm phương tiện tham gia đi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng.

Người làm chứng Lê Văn T1 khai tại cơ quan điều tra và phiên tòa: Khoảng 21 giờ 00 ngày 22/8/2022, tôi, T (tên gọi khác là M), C và một vài người bạn ngồi ăn tại quán L1 thì K đến ngồi ăn cùng với chúng tôi. Lúc này K nói cho chúng tôi nghe là K đang đụng chuyện với thằng N nên hẹn chuẩn bị đánh nhau. K nhờ chúng tôi có gì tí đến giúp K đi đánh nhau nên cả nhóm chúng tôi gồm có T đều nhận lời giúp K. Khoảng 22 giờ 00 chúng tôi đi đến nghĩa địa N để tụ tập với nhóm của K. Đến nghĩa địa N chúng tôi gặp K và khoảng 15, 16 người khác, có người cầm phảng và một số phảng để dưới đất khoảng 10-12 cây; chúng tôi ở tại đây khoảng 05 phút thì K bảo chúng tôi đi ra khu vực ngã ba cây xăng Đ để tìm N đánh; chúng tôi đi bằng xe mô tô, T điều khiển xe chở C cầm phảng ngồi sau, còn những người khác tôi không để ý.

Người làm chứng Nguyễn Thành C khai tại cơ quan điều tra: Tối ngày 22/8/2022, tôi và T, T1 cùng một số bạn đã nhận lời giúp K đi đánh nhau với N. T điều khiển xe mô tô chở tôi ngồi sau cầm phảng đi từ nghĩa địa N ra ngã ba cây xăng Đ. Vào khoảng hơn 01 giờ ngày 23/8/2022, cả nhóm đến ngã ba cây xăng Đ, chúng tôi thấy có hai người nữ và một nam thanh niên ngồi trên xe mô tô Vision ở vỉa hè đối diện cây xăng. Sau đó có một thanh niên điều khiển một chiếc xe mô tô SH, màu trắng đến nói chuyện với K, tôi cùng một số thanh niên khác bao vây bên ngoài. K và thanh niên này đang nói chuyện thì bất ngờ người thanh niên này bỏ chạy, K và một số người đuổi theo, tôi và những người còn lại trong nhóm cầm phảng đứng trên đường, trước nhà dân. Một lúc sau, K dùng cây phảng chém mặt trước của xe SH, cả nhóm đến can ngăn nên K không chặt tiếp. Cả nhóm đi về nhà K trả lại hết phảng, M chở tôi và T1 về ở tại nhà trọ của T1 ngủ lại đó. Sự việc diễn ra tại cây xăng Đ thì T ngồi trên xe mô tô gần đó không tham gia đánh, đập phá xe của người thanh niên. Từ lúc nhóm chúng tôi sử dụng hung khí tập trung để đánh nhau đến khi rút về đến nhà diễn ra trong khoảng 20 phút.

Hành vi gây rối trật tự cộng của Phạm Minh T được tách ra từ vụ án “Gây rối trật tự công cộng” có nhiều đồng phạm cùng với bị cáo. Các đồng phạm với bị cáo trong vụ án đã được Tòa án nhân dân các cấp của tỉnh Bình Định xét xử và các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Ngày 31/5/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bình Định đã xác định được bị cáo Phạm Minh T có tên gọi khác là M đã tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Trung tâm H3 từ tháng 02/2023, nên ngày 01/8/2024 đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra hình sự khu vực 2 Quân chủng Hải quân giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Đơn báo cáo của ông Nguyễn Văn N1, Khu phố trưởng Khu phố T, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định ngày 30/8/2022 có nội dung: Tôi thay mặt ban nhân dân và nhân dâu khu phố T viết đơn này báo cáo về sự việc như sau: Vào đêm ngày 22/8/2022 rạng sáng ngày 23/8/2022, tại khu vực ngã ba đường N (Quốc lộ A cũ) - đường N thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện T (ngã ba cây xăng Đ) có nhóm thanh niên tụ tập sử dụng hung khí để đánh nhau, đồng thời có hành vi chặn, dọa đánh người đi đường gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân, gây cản trở giao thông, làm náo động trật tự ở nơi công cộng. Hậu quả có 01 người đi đường bị đánh gây thương tích.

Tại Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra sự việc do Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định lập hồi 09 giờ 00 ngày 23/8/2022, xác định: Vị trí nơi xảy ra vụ việc ngày 23/8/2022 tại khu phố T, thị trấn T, huyện T là giữa đường nhựa đoạn đường N thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện T. Phía Nam giáp quán C1 ở B N. Phía Bắc giáp cây xăng Đ. nơi xảy ra vụ việc đã bị xáo trộn, không còn nguyên vẹn do đây là đoạn đường chính của địa phương, có nhiều người, phương tiện giao thông di chuyển qua lại.

Đối với vật chứng là số phảng, dao là hung khí liên quan trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS2 ngày 02 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát quân sự khu vực 2 Quân chủng Hải quân đã truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung, quyết định truy tố đối với Phạm Minh T. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hậu quả vụ án, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Gây rối trật tư công cộng”. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 318; Điều 17, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Về dân sự: Không ai có ý kiến yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn, bồi thường khoản gì. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận Cơ quan Điều tra khu vực 2 Quân chủng Hải quân đã trả lại 01 xe mô tô BKS 77L1-268.36; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 77004632 mang tên Phạm Văn L do Công an huyện T, tỉnh Bình Định cấp ngày 07/6/2021 (Bản gốc) cho chủ sở hữu là ông Phạm Văn L.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo Phạm Minh T thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 2 Quân chủng Hải quân, Điều tra viên; Viện kiểm sát quân sự khu vực 2 Quân chủng Hải quân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan Điều tra, bị cáo Phạm Minh T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Mặc dù không mâu thuẫn với Đoàn Thanh K1, nhưng khi được Lê Hoài K rủ rê đi đánh nhau với K1, bị cáo Phạm Minh T đã đồng ý tham gia. Khi đến tụ tập cùng với nhóm của K, bị cáo T đã điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thành C cầm phảng ngồi sau đi tìm K1 để đánh nhau. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/8/2022, tại khu vực ngã ba cây xăng Đ thuộc khu phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định, bị cáo cùng với nhóm của K tập trung thành nhóm đông người, dùng hung khí gồm phảng, dao, la hét, gây sự, chặn xe, rượt đuổi đánh người khác tại khu vực ngã ba giao nhau giữa các tuyến đường giao thông. Sự việc này diễn ra trong khoảng 20 phút vào lúc 01 giờ sáng đã gây mất an ninh trật tự tại khu vực ngã ba cây xăng Đ, gây tâm lý lo sợ cho người dân tại đây. Hành vi vi phạm của bị cáo Phạm Minh T đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quy tắc trật tự ở những nơi công cộng, khu dân cư. Hành vi của bị cáo T cùng với nhóm K diễn ra và vào ban đêm tại khu vực đông dân cư ảnh ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân tại địa phương. Trong vụ án này, hành vi phạm tội của bị cáo và các đối tượng khác thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy không có mâu thuẫn với K1 nhưng khi được K nhờ đi đánh nhau với K1, bị cáo đồng ý tham gia ngay. Trong quá trình đi đánh nhau cùng với nhóm của K, dù bị cáo không trực tiếp cầm dao, phảng đánh gây thương tích và đập phá tài sản người khác nhưng bị cáo là người trực tiếp điều khiển xe mô tô chở C cầm phảng trên tay cùng với nhiều đối tượng khác tạo thành nhóm cầm hung khí tụ tập, la ó, hò hét, rượt đuổi đánh người khác nơi công cộng. Sau khi đuổi đánh nhau xong thì chính bị cáo là người điều khiển xe mô tô chở C và T1 rời khỏi hiện trường vụ án. Như vậy, cho thấy bị cáo đã cùng với các đối tượng khác thực hiện hành gây rối trật tự công cộng từ đầu đến cuối. Bị cáo T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của mình gây ra.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật lần nào và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy hành vi của bị cáo Phạm Minh T là nghiêm trọng, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích xã hội và giáo dục, phòng ngừa chung.

Về dân sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa không ai có ý kiến yêu cầu bị cáo phải bồi thường, bồi hoàn gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra xác định: Ông Phạm Văn L là bố đẻ của bị cáo, chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, BKS 77L1-268.36. Ông L không biết việc T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện tham gia đi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng. Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 2 Quân chủng Hải quân đã trả lại cho ông Phạm Văn L: 01 xe mô tô BKS 77L1-268.36 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 77004632 mang tên Phạm Văn L do Công an huyện T, tỉnh Bình Định cấp ngày 07/6/2021. Việc trả lại các đồ vật trên là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/晦BTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Phạm Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/3/2025) bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân chủng Hải quân./.

Cỡ chữ