vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 07/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lương Ngọc T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Lương Ngọc T bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Ngọc T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày: 07-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Công

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Như Chi và ông Đinh Văn Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Trần Đình Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2024/HSST ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Ngọc T (Tên gọi khác: M). Giới tính: Nam. Sinh năm: 1984. Nơi cư trú: Tổ dân phố LP, phường CL, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Con ông: Trần Xuân A, sinh năm: 1966 và bà: Lương Thị Thu O, sinh năm: 1969. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 6/12. Nghề nghiệp: Không. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 20/3/2024, bị Công an thành phố C xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 23/9/2024; ngày 15/8/2024, bị Công an thành phố C xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 26/10/2024, bị Công an huyện Khánh Sơn xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi gây thương tích cho người khác. Nhân thân: Ngày 26/3/2003, bị Tòa án nhân dân thị xã C xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2004; ngày 14/12/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/3/2016; ngày 22/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2018. Nhân thân: Ngày 16/5/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố C áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Bị cáo hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1986. Nơi cư trú: Tổ dân phố LS, phường CÔ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Võ B, sinh năm: 1970. Nơi cư trú: Thôn TH, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lương Ngọc T là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, Tđiều khiển xe mô tô 79K3-3498 đi trên các tuyến đường trên địa bàn thành phố C để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà bà Nguyễn Thị Kim H tại thôn GP, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Tthấy không có người ở nhà nên đi vào thì thấy cửa sau không khoá, T đi vào trong nhà tìm tài sản để trộm cắp nhưng không tìm thấy tài sản có giá trị để lấy nên T lấy trộm 02 cánh cửa kính, khung được làm bằng sắt để đi bán phế liệu lấy tiền. Khi T chuẩn bị điều khiển xe mô tô chở 02 cánh cửa đi thì bị phát hiện.

Tại Kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐGTS ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 02 cánh cửa trên trị giá 420.000 đồng.

Đối với xe mô tô 79K3-3498, người đứng tên đăng ký là anh Đỗ Văn L. Anh L khai nhận đã bán xe trên cho người đàn ông không rõ lai lịch vào năm 2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C chưa xác định được chủ sở hữu nên điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSCR-HS ngày 26/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C đã truy tố bị cáo Tvề tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T về điều khoản như trên của bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Ttừ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo ăn năn hối hận vì đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật nên đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, tất cả những người tham gia tố tụng này đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Lương Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, tại nhà bà Nguyễn Thị Kim H thuộc thôn GP, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Lương Ngọc T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của người khác lén lút trộm cắp 02 cánh cửa kính, khung được làm bằng sắt của bà Nguyễn Thị Kim H trị giá 420.000 đồng.

Hành vi của bị cáo T có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, cáo trạng số 04/CT-VKSCR-HS ngày 26/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Tvề điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý tài sản của người khác là một trong những khách thể quan trọng được Luật hình sự bảo vệ, gây tâm lý hoài nghi lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, trong hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Lương Ngọc T bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lương Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lương Ngọc T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Kim H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo Lương Ngọc T bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Bị cáo Lương Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ