- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Việt C - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 16/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Thái Văn Hà
Thẩm phán : Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Lý
Bà Nguyễn Thị Diệu Thu
Bà Hu nh Thị Kim Xuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Cường - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLHS-ST ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/HSST-QĐ ngày 11/12/2024 đối với bị cáo:
TRƯƠNG VIỆT C - sinh năm: 1983 tại Bình Định; nơi đăng ký nhân khẩu: N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú và chỗ ở: Tổ E, khu V, phường H, TP Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thanh M (đã chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1947; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; con có 03 người lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Việt C:
1. Ông Trần T – Luật sư hoạt động tại Văn phòng L4, Đoàn luật sư thành phố H bào chữa cho bị cáo C theo yêu cầu của gia đình bị cáo; Địa chỉ: 7 N, Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
2. Bà Trần Thị Thanh L – Luật sư hoạt động tại Văn phòng L4, Đoàn luật sư thành phố H bào chữa cho bị cáo C theo yêu cầu của gia đình bị cáo. Địa chỉ: 7 N, Phường C, Q.T, Tp . Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị hại: Trần Văn D (chết)
Đại diện theo pháp luật của bị hại:
1. Ông Trần Văn P – là cha ruột bị hại
2. Bà Võ Thị N1 – là mẹ ruột bị hại
Đại diện ủy quyền: Chị Nguyễn Diệp Thùy V (có mặt)
3. Chị Nguyễn Diệp Thùy V – là vợ của bị hại. (Có mặt)
Địa chỉ: 52/26 H, phường G, thành phố Q, Bình Định
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Trần Nguyễn Minh C1, sinh ngày: 10/10/2017 (con ruột bị hại).
2. Cháu Lê Hoàng P1, sinh ngày: 22/04/2015 (con riêng của vợ bị hại)
Đại diện theo pháp luật: Chị Nguyễn Diệp Thùy V mẹ ruột của 2 cháu.
(có mặt)
Địa chỉ: 52/26 H, phường G, thành phố Q, Bình Định
3. Anh Phan Văn T1 – sinh năm: 1995. (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ 20, KV. 4, P. G, Tp Q, tỉnh Bình Định
- Người làm chứng:
1. Anh Lê Xuân H1 – sinh năm: 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 13, KV. 2, P. G, Tp. Q, tỉnh Bình Định
2. Anh Nguyễn Văn C2 – sinh năm: 1984 . Có mặt.
Địa chỉ: 52/16 H, phường G, Tp. Q, Bình Định
3. Anh Trần Văn T2 – sinh năm: 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 20, KV. 4, P. G, TP. Q, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17h20’ ngày 24/11/2023, Trương Việt C điều khiển xe bồn chuyên chở dầu biển số 77C-226.XX của Công ty X về lại Cây xăng dầu P2 (thuộc Khu phố 5, P. G, Tp. Q, tỉnh Bình Định) để cất xe. Khi C đang điều khiển xe vào bãi đỗ tại Cây xăng dầu P thì bị vướng xe ô tô tải biển số 81C-060.XX của Trần Văn D (sinh năm 1990, trú tại Tổ 20, KV. 4, P. G, Tp. Q, tỉnh Bình Định) đang chuyển hàng (cá sống) từ xe ô tô tải khác sang xe của D nên C nói D di chuyển xe ô tô tải 81C-060.XX tới trước một đoạn để cho xe của C vào bãi. Nhưng D không đồng ý và có lời lẽ chửi bới và thách thức, đòi đánh C nên C mở cửa, xuống xe.
Trong lúc D và C đang đứng cãi nhau thì D dùng tay đấm vào mặt C 01 cái; Phan Văn T1 (sinh năm 1995, trú tại Tổ 20, KV. 4, P. G, Tp. Q, tỉnh Bình Định - là phụ xe, đi cùng với D) chạy đến dùng tay đánh C làm C ngã xuống đất. Lúc này, D và C tiếp tục ôm vật nhau thì nhân viên Cây xăng dầu Phương L1 đến can ngăn, kéo C và D ra. Sau khi đã được can ngăn, D và C đứng cách nhau khoảng 1,5m.
Lúc này, D vẫn tiếp tục xông đến để đánh C thì C lấy 01 con dao (loại dao xếp, bằng kim loại, dài 16cm, được gắn trên chùm chìa khóa móc ở lưng quần của C) cầm trên tay phải đâm liên tiếp nhiều nhát theo hướng từ phải qua trái trúng vào ngực, hông trái của D. Sau đó, do được mọi người can ngăn nên C đi vào trong văn phòng của Cây xăng dầu P2. Còn D được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B, nhưng đã tử vong. Sau khi biết D tử vong, C đến Công an T5 đầu thú, khai rõ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định tử thi số 428 ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với tử thi của Trần Văn D, kết luận: Tại vùng ngực trái cách núm vú trái về phía trên - ngoài 04cm có vết thương kích thước (1,5x1)cm, bờ mép sắc gọn, góc dưới - trong vuốt, góc trên - ngoài tù. Tràn khí dưới da diện rộng vùng ngực - bụng; Tại vùng thắt lưng - hông trái có vết thương kích thước (4x1)cm, bờ mép sắc gọn, góc ngoài tù, góc trong vuốt. Cách vết này về phía dưới - sau 04cm có vết thương kích thước (2x1)cm, bờ mép sắc gọn, góc dưới vuốt, góc trên tù. Kết luận: Nguyên nhân chết: Suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu ngực, thủng phổi, tràn máu, tràn khí màng phổi.
Theo kết luận giám định số 2578 ngày 25/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có, kết luận: Trên con dao và trên móc chìa khóa (của bị can Trương Việt C) có máu của Trần Văn D.
Tại Cáo trạng số: 116 /CT-VKSBĐ-P2 ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố Trương Việt C về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trương Việt C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trương Việt C về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị HĐXX:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Việt C Phạm tội “Giết người”.
Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Việt C từ 12 năm đến 13 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trương Việt C đã bồi thường xong theo thoả thuận với gia đình bị hại Trần Văn D số tiền 380 triệu đồng và đã được gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can. Tại phiên toà chị V không yêu cầu gì, miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
*/Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) khuyên tròn bằng kim loại màu bạc có gắn: 01con dao xếp bằng kim loại màu bạc dài 16cm; phần lưỡi dao dài 07cm, có mũi nhọn, được mài bén 01 cạnh, vị trí rộng nhất kích trước 17mm, vị trí hẹp nhất kích thước 01mm; phần cán dao dài 09cm. 01chìa khoá bằng kim loại màu bạc, bị hoen rỉ, trên có chữ “DROLL”. 01 (Một) chìa khoá có một phần bằng kim loại màu bạc và một phần bằng nhựa màu đen, trên phần màu đen có chữ “VUONG MIEN”.
- Phần còn lại các mẫu đất, cát dính chất màu nâu còn lại sau giám định.
- 01 (Một) chiếc áo sơ mi ngắn tay màu đen dính chất màu nâu.
*/ L2 vào hồ sơ vụ án: 01 (Một) thẻ nhớ SanDisk Ultra 32GB Micro SD HCI, lưu trữ 07 file Video trích xuất từ camera an ninh đặt tại Cây xăng P.
*/ Đối với xe bồn biển số 77C-226.XX và xe ô tô tải biển số 81C-060.XX đã được Cơ quan điều tra trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 41 ngày 30/11/2023 và Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 44 ngày 06/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bình Định.
- Người bào chữa cho bị cáo Trương Việt C phát biểu luận cứ bào chữa: Về tội danh, thống nhất như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố .Tuy nhiên do bị cáo bị Anh D1 và Anh T1 tấn công đánh bị cáo nhiều lần làm cho bị cáo không làm chủ được hành vi của mình, vụ án xảy ra do bị hại gây sự trước cho nên có một phần lỗi của bị hại. Sau khi xảy ra sự việc bị cáo tự nguyện đầu thú. Quá trình điều tra, truy tố xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện tác động gia đình đã bồi thường cho bị hại Trần Văn D số tiền 380 triệu đồng gia đình bị hại đã bãi nại, nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xem xét xử phạt bị cáo C 12 năm tù.
Đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận với viện kiểm sát; về dân sự không yêu cầu gì. Trách hình sự đề nghị HĐXX áp dụng mức phạt tù đối với bị cáo C theo quy định pháp luật.
Bị cáo không bào chữa, không tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 17h20’ ngày 24/11/2023, tại Cây xăng dầu P (thuộc KP. 5, P. G, Tp. Q, tỉnh Bình Định), xuất phát từ mâu thuẫn trong việc đậu, đỗ xe ô tô đã dẫn đến xô xát, đánh nhau bằng tay, chân giữa Trần Văn D, Phan Văn T1 với Trương Việt C. Mặc dù đã được nhiều nhân viên tại Cây xăng dầu P2 (là đồng nghiệp với Trương Việt C) can ngăn, nhưng với bản tính hung hăng, xem thường pháp luật, Trương Việt C đã lấy 01 con dao xếp mang theo sẵn trên người đâm liên tục nhiều nhát trúng vào phần ngực và hông trái của Trần Văn D làm cho D tử vong do vết thương thấu ngực, thủng phổi, tràn máu, tràn khí màng phổi.
Theo kết luận giám định tử thi số 428 ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định đối với tử thi của Trần Văn D. kết luận: Tại vùng ngực trái cách núm vú trái về phía trên - ngoài 04cm có vết thương kích thước (1,5x1)cm, bờ mép sắc gọn, góc dưới - trong vuốt, góc trên - ngoài tù. Tràn khí dưới da diện rộng vùng ngực - bụng; Tại vùng thắt lưng - hông trái có vết thương kích thước (4x1)cm, bờ mép sắc gọn, góc ngoài tù, góc trong vuốt. Cách vết này về phía dưới - sau 04cm có vết thương kích thước (2x1)cm, bờ mép sắc gọn, góc dưới vuốt, góc trên tù. Kết luận: Nguyên nhân chết: Suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do vết thương thấu ngực, thủng phổi, tràn máu, tràn khí màng phổi.
Tại Kết luận giám định số 2578 ngày 25/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng có, kết luận: Trên con dao và trên móc chìa khóa (của bị can Trương Việt C) có máu của Trần Văn D.
Do đó, cáo trạng số: 116 /CT-VKSBĐ-P2 ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố Trương Việt C về tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi nêu trên của bị cáo Trương Việt C là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính chất côn đồ, dùng con dao là hung khí nguy hiểm đâm nhiều nhát vào vùng ngực và hông trái của bị hại D, đã trực tiếp tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[4.2]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trương Việt C không có tình tiết tăng nặng.
[4.3]. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi đâm anh D, bị cáo Trương Việt C đến Cơ quan công an đầu thú. Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Bị cáo tác động Gia đình đã bồi thường xong cho gia đình bị hại Trần Văn D số tiền 380 triệu đồng và đã được gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hơn nữa bị hại cũng có một phần lỗi là đánh bị cáo trước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trương Việt C đã bồi thường xong cho gia đình bị hại Trần Văn D số tiền 380 triệu đồng đã được gia đình bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà đại diện bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng bị cáo sử dụng để gây án, không còn giá trị sử dụng nên:
[6.1]. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì, dán kín, tại phần mép dán có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký, chữ viết ghi Lê Văn Đ, Võ Ngọc K. Trên phong bì có ghi chữ “2578/KL-KTHS”. Trong phong bì có: 01 khuyên tròn bằng kim loại màu bạc, dính chất màu nâu, có gắn: 01 con dao xếp bằng kim loại màu bạc dài 16cm; phần lưỡi dao dài 07cm, có mũi nhọn, được mài bén 01 cạnh, vị trí rộng nhất có kích thước 17mm, vị trí hẹp nhất có kích thước 01mm; phần cán dao dài 99cm; dính chất màu nâu; 01 chìa khóa bằng kim loại có màu bạc, bị hoen rỉ, bên trên có dập nổi chữ “DROLL”, dính chất màu nâu; 01 chìa khóa xe mô tô màu đen – bạc, trên phần màu đen có dập chìm dòng chữ “VUONG MIEN”, dính chất màu nâu; 01 móc gắn chìa khóa bằng kim loại màu bạc, dính chất màu nâu.
- 01 hộp giấy được dán kín, tại phần mép dán có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký “2578/KL-KTHS”. Trong hộp giấy có: Phần còn lại các mẫu: Mẫu đất, cát dính chất màu nâu ghi thu tại vị trí số 3; mẫu đất, cát dính chất màu nâu ghi thu tại vị trí số 4.
- 01 thùng cát tông được dán niên phong có hình dấu của Công an phường G, thành phố Q và các chữ ký của Phan Đức V1, Đặng Thị V2, Nguyễn Thành T3, Đặng Ngọc T4 và Phan Vũ L3. Bên trong có: 01 chiếc sơ mi ngắn tay màu đen dính chất màu nâu.
[6.2]. Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) thẻ nhớ SanDisk Ultra 32GB Micro SD HCI, lưu trữ 07 file Video trích xuất từ camera an ninh đặt tại Cây xăng P.
[6.3]. Đối với xe bồn biển số 77C-226.03 và xe ô tô tải biển số 81C-060.83 đã được Cơ quan điều tra trả cho chủ sở hữu theo Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 41 ngày 30/11/2023 và Quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 44 ngày 06/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bình Định.
[7]. Về án phí: Bị cáo Trương Việt C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của HĐXX, nên được chấp nhận.
[9]. Luận cứ bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX, nên được chấp nhận.
[10]. Vấn đề khác: Trong vụ án này, đối với Phan Văn T1 có hành vi cùng Trần Văn D dùng tay, chân đánh Trương Việt C gây ra một số vết thương nhẹ. Tuy nhiên, Trương Việt C từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Phan Văn T1 về tội “Cố ý gây thương tích”. Mặt khác, sự việc xảy ra trong khoảng thời gian ngắn (khoảng 01 phút 48 giây) nên không ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên không có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng”. Do đó, Cơ quan điều tra tách hành vi, tài liệu có liên quan đến vi phạm của Phan Văn T1 và chuyển đến Công an thành phố T5 để xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Vì các lẽ nên trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Điều 585, 586, 591 của Bộ luật dân sự;
- Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- hoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
T ên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Việt C phạm tội “Giết người”
2. Xử phạt: Bị cáo Trương Việt C 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Trương Việt C đã bồi thường xong cho gia đình bị hại Trần Văn D số tiền 380 triệu đồng và đã được gia đình bị hại bãi nại trách nhiệm dân sự. Tại phiên toà đại diện bị hại không yêu cầu gì, miễn xét.
4. Xử lý vật chứng:
4.1. Tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 phong bì, dán kín, tại phần mép dán có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký, chữ viết ghi Lê Văn Đ, Võ Ngọc K. Trên phong bì có ghi chữ “2578/KL-KTHS”. Trong phong bì có: 01 khuyên tròn bằng kim loại màu bạc, dính chất màu nâu, có gắn: 01 con dao xếp bằng kim loại màu bạc dài 16cm; phần lưỡi dao dài 07cm, có mũi nhọn, được mài bén 01 cạnh, vị trí rộng nhất có kích thước 17mm, vị trí hẹp nhất có kích thước 01mm; phần cán dao dài 99cm; dính chất màu nâu; 01 chìa khóa bằng kim loại có màu bạc, bị hoen rỉ, bên trên có dập nổi chữ “DROLL”, dính chất màu nâu; 01 chìa khóa xe mô tô màu đen – bạc, trên phần màu đen có dập chìm dòng chữ “VUONG MIEN”, dính chất màu nâu; 01 móc gắn chìa khóa bằng kim loại màu bạc, dính chất màu nâu.
- 01 hộp giấy được dán kín, tại phần mép dán có hình dấu của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký “2578/KL-KTHS”. Trong hộp giấy có: Phần còn lại các mẫu: Mẫu đất, cát dính chất màu nâu ghi thu tại vị trí số 3; mẫu đất, cát dính chất màu nâu ghi thu tại vị trí số 4.
- 01 thùng cát tông được dán niên phong có hình dấu của Công an phường G, thành phố Q và các chữ ký của Phan Đức V1, Đặng Thị V2, Nguyễn Thành T3, Đặng Ngọc T4 và Phan Vũ L3. Bên trong có: 01 chiếc sơ mi ngắn tay màu đen dính chất màu nâu.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/12/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định )
4.2. Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (Một) thẻ nhớ SanDisk Ultra 32GB Micro SD HCI, lưu trữ 07 file Video trích xuất từ camera an ninh đặt tại Cây xăng P. (Theo biên bản giao nhận hồ sơ ngày 19/11/2024).
5. Về án phí hình sự: Bị cáo Trương Việt C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Bình Định; - Người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Định; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bình Định; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Phòng KTNV&THA tỉnh Bình Định; - Lưu. | TM HỘI Đ NG X T X Ơ TH M Thẩm phán - Ch toạ phiên toà Thái Văn Hà |