vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ vào Điều 173 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Q phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào Điều 173 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017):
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày: 07- 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – LÂM ĐỒNG,

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mận.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Thông Phi;

2.Bà Phan Thị Thắng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Ngọc Tú - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 16, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 16 - Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/HSST, ngày 03 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 5/5/1990 tại Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ A, khu phố B, phường T, TX. L, Bình Thuận (nay là tổ dân phố B T, phường L, tỉnh Lâm Đồng); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không ổn định; Trình độ học vấn: 02/12; con ông Nguyễn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1960; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ 04 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có;

- Tiền án:

+ Ngày 27/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, có áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong ngày 14/8/2023.

- Tiền sự: Không.

- Quá trình nhân thân:

Ngày 12/8/2016 bị Tòa án nhân TX. L, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 04/02/2021.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam số 8 thuộc Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh L từ ngày 25/4/2025 cho đến nay. Có mặt tại Toà.

Người bị hại:

1/ Bà Tưởng Thị N, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

2/ Bà Trần Thị Lâm N1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

3/ Ông Nguyễn Ngọc N2, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :

1/ Bà Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn T, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

2/ Ông Nguyễn T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khu phố B, phường L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/4/2025 đến ngày 24/4/2025 Nguyễn Thanh Q, đã 03 lần thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T, tỉnh Bình Thuận (nay thuộc các xã T và Đ, tỉnh Lâm Đồng), cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 16/04/2025 Nguyễn Thanh Q điều khiển xe mô tô biển số 86B6-148.12 một mình đi trên Quốc lộ E thuộc xã Đ, huyện T thì phát hiện nhà bà Tưởng Thị N ở thôn A, Đ, T, Bình Thuận để 01 bao hạt điều tươi khoảng 20,4kg trên bàn phía trước nhà không có người trông coi. Q lén lút vào lấy trộm bao hạt điều rồi bỏ lên xe chở đi bán cho cơ sở thu mua hạt điều của bà Huỳnh Thị Kim L ở K. Tân Thành, TT. Lạc Tánh, Tánh L1, Bình Thuận được 724.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 20,40kg hạt điều tươi, có trị giá 714.000 đồng (Bảy trăm mười bốn ngàn đồng).

Lần Thứ 2: Khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 17/4/2025 Nguyễn Thanh Q điều khiển xe mô tô biển số 86B6-148.12 một mình đi trên Quốc lộ E thuộc Kp. Tân Thành, TT. Lạc T1, Tánh L1, Bình Thuận thì phát hiện cơ sở thu mua hạt điều của bà Trần Thị Lâm N1 ở K. Tân Thành, TT. Lạc T1, Tánh L1, Bình Thuận không có người trông coi, Q để xe mô tô ngoài đường và đi bộ vào lấy 01 bao hạt điều tươi khoảng 30,35kg rồi vác đi bộ ra xe mô tô chở đi bán tại cơ sở thu mua hạt điều của bà Huỳnh Thị Kim L ở K. Tân Thành, TT. Lạc Tánh, Tánh L1, Bình Thuận được 1.113.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 30,35kg hạt điều tươi, có trị giá 1.062.250 đồng (Một triệu không trăm sáu mươi hai ngàn hai trăm năm mươi đồng).

Lần thứ ba: Khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 24/4/2025 Nguyễn Thanh Q điều khiển xe mô tô biển số 86B6-148.12 đi một mình từ thị xã L, Bình Thuận đến huyện T, Bình Thuận để trộm cắp tài sản, khi Q đi đến đoạn đường Q thuộc thôn B, Đ, T, Bình Thuận; Q nhìn thấy nhà ông Nguyễn Ngọc N2 ở thôn B, Đ, T, Bình Thuận có 01 bao hạt điều tươi để trước sân nhà thì Q lén lút vào nhà ông N2 lấy trộm bao hạt điều tươi để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Q đang lấy bao hạt điều tươi bỏ lên xe thì bị người nhà ông N2 phát hiện nên Q bỏ lại xe và bao điều chạy bộ ra đường Q nên ông N2 truy hô người dân xung quanh và điện báo Công an xã Đ cùng đuổi bắt quả tang. Sau khi bắt được Q Công an xã Đ đã tiến hành xác định hiện trường và lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ tang vật theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 30kg hạt điều tươi, có trị giá 1.044.990 đồng (Một triệu không trăm bốn mươi bốn ngàn chín trăm chín mươi đồng). Tại bản cáo trạng số 42/CT – VKSND – TL ngày 30 tháng 6 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, tỉnh Lâm Đồng) đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, tỉnh Lâm Đồng khẳng định bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh Q là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xem xét áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q với mức án từ 02 (hai ) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Bị cáo Nguyễn Thanh Q không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, trên cơ sở lời khai của bị cáo Q, lời khai của những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ, đủ căn cứ để xác định:

Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 16/4/2025 đến khoảng 12 giờ 40 phút, ngày 24/4/2025 Nguyễn Thanh Q đã có hành vi lén lút trộm cắp 03 bao điều hạt tươi có tổng khối lượng 80,75 kg của bà Tưởng Thị N và bà Trần Thị Lâm N1 và ông Nguyễn Ngọc N2 có tổng trị giá 2.821.240 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Ngày 27/4/2023, Nguyễn Thanh Q bị Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông xử phạt 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 19/2023/HS-ST, ngày 27 tháng 4 năm 2023). Tại bản án này, bị cáo Q đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”. Bị cáo Q chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó Nguyễn Thanh Q đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của Nguyễn Thanh Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thanh Q một mức hình phạt thật nghiêm minh phù hợp với quy định của pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo Q tái phạm chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý là “tái phạm nguy hiểm” . Tuy nhiên, tình tiết này đã được áp dụng làm tình tiết định khung hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết này làm tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thanh Q, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó khi quyết định hình phạt cần lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tương ứng với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với tính khoan hồng của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Những người bị hại bà Tưởng Thị N và bà Trần Thị Lâm N1 và ông Nguyễn Ngọc N2 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về vật chứng: Các vật chứng bị thu giữ gồm: 01 bao điều hạt tươi 30kg; 01 xe mô tô biển số: 86B6-148.12. Các vật chứng này đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Cần buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Liên quan trong vụ án này, bà Huỳnh Thị Kim L đã có hành vi mua hai bao hạt điều do bị cáo Q trộm cắp mang bán. Tuy nhiên, bà L không biết các tài sản đó là do bị cáo Q trộm cắp mà có. Vì vậy hành vi của bà L không cấu thành tội phạm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh: Căn cứ vào Điều 173 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 25/4/2025).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo. Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/8/2025); những người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ