vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Cao Đình Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu xung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô BKS 30F-8918, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave được dán đề can màu vàng-hồng-trắng-đen, số khung RLHHC12008Y566346, số máy HC12E-0140414 (xe cũ đã qua sử dụng) của Cao Đình Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn Thường - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cao Đình Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13- PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ơ
Bản án số: 04 /2025/HS-ST
Ngày: 24 / 7 /2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13-PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ánh Hồng và bà Nguyễn Thị Thu Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bình -Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13- Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13- Phú Thọ tiến hành xét xử vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/HSST/TL ngày 24/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Cao Đình Th, sinh ngày 06/02/1988

Nơi cư trú: Thôn Th, xã H, Ch, Hà N( nay là thôn Th, xã Tr, thành phố H; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đình Lễ; sinh năm 1954 ( đã chết ), con bà Ngô Thị Lan, sinh năm 1955; vợ là Nguyễn Thị Liễu, sinh năm 1988 có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2025 chờ xử lý.

- Người bị hại:

+ Cháu Phùng Thị Kiều A, sinh ngày 19 tháng 02 năm 2008.

Nơi cư trú: Thôn 3/2B xã L, tỉnh Ph

Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Phùng Thị Kiều A là APhùng Xuân L ,sinh năm 1991; và anh Phùng Xuân S, sinh năm 1989; đều có nơi cư trú : Thôn 3/2B xã L, tỉnh Phú T (anh Lâm và anh Sỹ là anh trai của bị hại).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 14/4/2025, Cao Đình Th điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, biển kiểm soát: 30F3-8918, đeo khẩu trang bịt kín mặt, đi theo hướng từ đường Hồ Chí Minh vào thôn Đồng Sương, Liên Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình, khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đồng Sương, Liên Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình, Th quan sát thấy chị Phùng Thị Kiều Amột mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29X1-94738 đi phía trước cùng chiều, đeo sau lưng chiếc balo, phía bên túi trái balo có để hở ra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, ốp lưng bằng nhựa màu đen, có nhiều hình họa. Thấy vậy, Th nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên nên đã điều khiển xe mô tô đi theo sau chị Kiều A.

Khi đến đoạn đường vắng thuộc địa phận thôn Đồng Sương, Th điều khiển xe mô tô vượt lên áp sát ngang xe mô tô của chị Kiều Anh, rồi dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại của chị Kiều Ađang để trong túi bên trái balo, sau đó tăng ga xe mô tô chạy tẩu thoát. Th điều khiển xe mô tô đi theo hướng ra đường Hồ Chí Minh để về nhà cất giấu tài sản cướp giật được.

Đến ngày 15/4/2025, Cao Đình Th đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Hòa Bình để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc điện thoại Iphone X đã cướp giật của chị Kiều A

*Kết luận định giá tài sản

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 57/TB-HĐĐGTS, ngày 22/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hòa Bình. Định giá 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số máy MQAD2VN/A, số IMEI: 359412086444613, dung lượng 64GB trị giá là 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 01 (Một) ốp điện thoại bằng nhựa , màu đen, có nhiều hình họa trị giá là 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản là 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

* Vật chứng vụ án

- 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, sọc vàng, đã qua sử dụng.

- 01 điện thoại di động Redmi Not 11, màu đen, loại cảm ứng, số sêri 90f9864c (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

- 01 áo khoác màu đen, mặt trước bên phải thân áo có hình kẻ sọc (đã qua sử dụng).

- 01 quần dài nỉ màu xám, chỉ quần bên phải màu đen, bên trái màu đen có chữ Lacoste (đã qua sử dụng).

- 01 xe mô tô BKS 30F-8918, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave được dán đề can màu vàng-hồng-trắng-đen, số khung RLHHC12008Y566346, số máy HC12E-0140414 (xe cũ đã qua sử dụng).

Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hòa Bình chuyển những vật chứng nói trên đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, chờ xử lý.

Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone X, màu trắng, số máy MQAD2VN/A, số IMEI: 359412086444613, dung lượng 64GB, tình trạng đã qua sử dụng và 01 ốp điện thoại màu đen, có nhiều hình họa (tình trạng đã qua sử dụng). Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu là chị Phùng Thị Kiều Anh.

Đối với xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát: 29X1-94738 là xe mô tô của chị Phùng Thị Kiều Ađiều khiển khi bị cướp giật chiếc điện thoại, Cơ quan điều tra không tạm giữ nên không đề cập.

* Về trách nhiệm dân sự

Bị hại là chị Phùng Thị Kiều Ađã nhận lại tài sản; bị can Cao Đình Th đã tác động gia đình bồi Th thiệt hại tổn thất tinh thần cho chị Phùng Thị Kiều Asố tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng), chị Phùng Thị Kiều Ađã nhận bồi Th và không có đề nghị gì về phần dân sự.

Cáo trạng số 33/CT-VKSLS ngày 23/6/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Cao Đình Th về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ giữ nguyên Quyết định truy tố các bị cáo về tội dAvà điều khoản áp dụng như bản cáo trạng đã đề cập; Về hình phạt đề nghị HĐXX:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Cao Đình Th từ 03 năm đến 3 năm 6 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Chị Phùng Thị Kiều Akhông yêu cầu gì thêm nên không đè cập xử lý.

* Vật chứng vụ án: áp dụng Điều áp dụng điều 47 BLHS; 106 BLTTHS tuyên:

-Tịch thu xung phát mại công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô BKS 30F-8918, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave được dán đề can màu vàng-hồng-trắng-đen, số khung RLHHC12008Y566346, số máy HC12E-0140414 (xe cũ đã qua sử dụng).

- Trả lại bị cáo: - 01 điện thoại di động Redmi Not 11, màu đen, loại cảm ứng, số sêri 90f9864c (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

- Tịch thu tiêu huỷ : 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, sọc vàng, đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu đen, mặt trước bên phải thân áo có hình kẻ sọc (đã qua sử dụng); 01 quần dài nỉ màu xám, chỉ quần bên phải màu đen, bên trái màu đen có chữ Lacoste (đã qua sử dụng).

* Về án phí: Đề nghị tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Đình Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo xin được giảm hình phạt và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả trAluận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAtụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lương Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cao Đình Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, cụ thể:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 14/4/2025, Cao Đình Th điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, biển kiểm soát: 30F3-8918, đeo khẩu trang bịt kín mặt, đi theo hướng từ đường Hồ Chí Minh khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đồng Sương, Th quan sát thấy chị Phùng Thị Kiều Amột mình điều khiển xe mô tô đi phía trước, đeo balo có để hở ra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X. Th điều khiển xe mô tô vượt lên áp sát ngang xe mô tô của chị Kiều Anh, rồi dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại của chị Kiều A sau đó tăng ga xe mô tô chạy tẩu thoát.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, và 01 (Một) ốp điện thoại bằng nhựa, màu đen. Tổng trị giá tài sản là 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng).

Hành vi điều khiển xe moto cướp giật tài sản đã cấu thành tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng số 33 /CT-VKSLS, ngày 23/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ truy tố bị cáo Cao Đình Th về tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3] Về tính chát mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Cao Đình Th là người có năng lực hành vi dân sự, hiểu biết pháp luật, nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên bị cáo đã có hành vi cướp chiếc chiện thoại của cháu Phùng Thị Kiều Anh. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 BLHD để ngăn ngừa tội phạm mới và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự: không có

- Về tình tiết giảm nhẹ : Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đến cơ quan điều tra đầu thú. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi Th, khắc phục hậu quả, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét các bị cáo là người lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định hoàn cảnh điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, Bị cáo đã tự nguyện bồi Th thêm cho bị cáo số tiền 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). Tại phiên toà hôm nay người bị hại không yêu cầu gì thêm nên toà không xét.

Về vật chứng của vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với các công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội:

+ Tịch thu xung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô BKS 30F-8918, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave được dán đề can màu vàng-hồng-trắng-đen, số khung RLHHC12008Y566346, số máy HC12E-0140414 (xe cũ đã qua sử dụng) của Cao Đình Th.

- Đối với các tài sản khác không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo gồm:

- 01 điện thoại di động Redmi Not 11, màu đen, loại cảm ứng, số sêri 90f9864c (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

Tại phiên toà bị cáo trình bày các vật chứng gồm: 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, sọc vàng, đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu đen, mặt trước bên phải thân áo có hình kẻ sọc (đã qua sử dụng); 01 quần dài nỉ màu xám, chỉ quần bên phải màu đen, bên trái màu đen có chữ Lacoste (đã qua sử dụng). Do không còn giá trị bị cáo không nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Vế án phí: Căn cứ Điều 136 của BLTTHS và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Đình Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Văn Th 03 ( ba năm ) tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/4/2025.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu xung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô BKS 30F-8918, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave được dán đề can màu vàng-hồng-trắng-đen, số khung RLHHC12008Y566346, số máy HC12E-0140414 (xe cũ đã qua sử dụng) của Cao Đình Th.

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động Redmi Not 11, màu đen, loại cảm ứng, số sêri 90f9864c (điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

- Tịch thu tiêu huỷ : 01 áo khoác màu đen, mặt trước bên phải thân áo có hình kẻ sọc (đã qua sử dụng); 01 mũ bảo hiểm màu đỏ, sọc vàng, đã qua sử dụng; 01 quần dài nỉ màu xám, chỉ quần bên phải màu đen, bên trái màu đen có chữ Lacoste (đã qua sử dụng).

Hiện trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày 24 tháng 6 năm 2025 giữa cơ quan điều tra công an tỉnh Hoà BÌnh với Chi cục thi hành án huyện Lương Sơn.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Cao Văn Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ