- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Cường phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 24/7/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và ông Phạm Văn Thấu;
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2025/TLHS-ST ngày 27/6/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 11/7/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thế C (tên gọi khác: Không); sinh ngày 09/02/1974 tại xã H, huyện N, tỉnh D; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh D (nay là thôn T, xã N, thành phố P); Căn cước công dân số: 030074002203; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T (ông Tư được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì năm 1986) và con bà Đào Thị M; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 và 03 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2024); tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam tặng thưởng Huy hiệu Thợ mỏ vẻ vang năm 2018. Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, sinh hoạt tại Đảng bộ xã Hồng Dụ, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng kể từ ngày 10/7/2025). Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
1. Bị hại: Công ty Cổ phần thương mại Phương Trung; địa chỉ: Cụm công nghiệp Hoàng Diệu, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (nay là xã Gia Phúc, thành phố Hải Phòng);
Người đại diện hợp pháp: ông Vũ Quang L – Trưởng phòng Hành chính nhân sự, Công ty Cổ phần thương mại Phương Trung (có đơn xin vắng mặt);
2. Người làm chứng: Chị Trương Thị P, sinh năm 1988; anh Nguyễn Duy B, sinh năm 1990; anh Đặng Đình T, sinh năm 1977; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; anh Lê Đình V, sinh năm 1980; anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1988 (đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1957 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thế C là công nhân có nhiệm vụ sửa chữa, bảo trì xe nâng Công ty cổ phần thương mại Phương Trung (gọi tắt là công ty Phương Trung), địa chỉ: Cụm Công nghiệp Hoàng Diệu, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (nay là xã Gia Phúc, thành phố Hải Phòng), do ông Nguyễn Tiến Dũng là Tổng Giám đốc. Công ty chuyên sản xuất, chế tạo nhôm mang thương hiệu Hưng Phát. Ngày 01/11/2024, Công ty nhập nhôm thỏi nguyên liệu phục vụ sản xuất, trong đó có mã kiện hàng I9709-32 gồm 44 thỏi nhôm đặc điểm giống nhau, nhập khẩu từ Úc, cụ thể: Khối lượng mỗi thỏi nhôm nặng 21,8kg; kích thước mặt đáy 73x16x04cm; phía trên mặt đáy dạng hình thang cao 09cm, kích thước đáy lớn 49x16cm; kích thước đáy nhỏ 43x13cm. Kiện hàng để trước cửa xưởng 4.1 của công ty; quá trình vận chuyển, dây đai cố định kiện hàng bị đứt làm các thỏi nhôm rơi ra khu vực cửa xưởng 4.1, đã được xếp gọn lại. Ngày 24/11/2024, khi C đi qua khu vực xưởng 4.1, nhìn thấy các thỏi nhôm đã nảy sinh ý định lấy mang đi bán để có tiền tiêu. Khoảng 17 giờ cùng ngày, C điều khiển xe nâng đến đỗ tại khu vực kiện nhôm, sau đó đi ăn cơm; đến khoảng 17 giờ 45 phút quay lại bê 03 thỏi nhôm xếp vào bậc lên xuống của xe nâng rồi điều khiển xe đến khu vực Trạm Bơm của công ty. Tại đây, C lần lượt bê 03 thỏi nhôm vào trạm bơm, đi qua khu vực rãnh nước rồi đặt từng thỏi nhôm lên tường bao với khu biệt thự cũ trong khuôn viên Công ty. Sau đó, C cất xe nâng, rồi đi bộ đến nơi để xe đạp nhãn hiệu ASAMA, màu đỏ đen của C vẫn thường sử dụng đi lại trong công ty. C điều khiển xe đạp đến vị trí tường bao đặt các thỏi nhôm rồi lần lượt bê, hạ 03 thỏi nhôm; vận chuyển từng thỏi nhôm đến cất giấu ở khu vực bãi phế liệu của Công ty, giáp hàng rào thép B40 ngăn cách khu biệt thự cũ với cánh đồng thôn Thị Xá, xã Hồng Hưng, huyện Gia Lộc (nay là xã Gia Phúc, TP Hải Phòng). Ngày 29/11/2024, C đến khu phế liệu chuyển 03 thỏi nhôm ra ngoài khu vực cánh đồng rồi mang về nhà bà Đoàn Thị G (mẹ vợ) tại thôn Cao La, xã Dân Chủ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (nay là xã Dân Chủ, TP Hải Phòng) cất giấu. Khoảng 01-02 ngày sau, C gặp và bán 03 thỏi nhôm với giá 28.000đ/1kg cho người thu mua phế liệu trên Quốc lộ 37, được tổng 1.820.000đ và đã chi tiêu cá nhân hết.
Đầu tháng 12/2024, nghe được tin Công ty đã biết người trộm cắp nhôm vào ngày 24/11/2024 nên C mua trên mạng 03 thỏi nhôm tương tự cất giấu tại khu bãi phế liệu; sau đó mang 02 thỏi cất giấu vào khu trạm bơm nhưng trên đường vận chuyển làm rơi xuống rãnh nước, không lấy lên được nên bỏ về nhà. Khoảng 01 đến 02 ngày sau, C ra bãi phế liệu thì không thấy thỏi nhôm còn lại. C tiếp tục đặt mua trên mạng 03 thỏi nhôm khác, mang cất giấu ở bãi phế liệu, tìm cách hoàn trả cho công ty. Ngày 07/12/2024, qua rà soát hệ thống camera, Công ty xác định C là người trộm cắp nhôm. Quá trình làm việc, C thừa nhận ngày 24/11/2024 có lấy 03 thỏi nhôm (kiện I9703-23) và chỉ dẫn vị trí cất giấu nhôm; Công ty đã thu giữ: Tại khu vực bãi phế liệu: 04 thỏi nhôm dạng hình hộp chữ nhật, kích thước giống nhau 70x10cm; trên các thỏi ghi chữ "Nga" bằng bút dạ màu đen. Tại khu vực rãnh nước: 02 thỏi nhôm dạng hình hộp chữ nhật, kích thước giống nhau 74x10cm; trên các thỏi ghi chữ "Úc" bằng bút dạ màu đen. Nguyễn Thế C tự nguyện giao nộp 01 xe đạp nhãn hiệu ASAMA màu đỏ đen, đã qua sử dụng. Ngày 11/12/2024, công ty Phương Trung có đơn trình báo.
Kết luận định giá tài sản số 04/KLĐG-HĐ ngày 05/5/2025, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: Trị giá 01 kg nhôm nhập khẩu "Úc" thời điểm ngày 24/11/2024 theo phiếu báo giá: 01kg x 2,66 (USD) x 25,233 (tỷ giá USD) = 67.120đồng. Trị giá 01 thỏi nhôm nhập khẩu từ "Úc" nặng 21,8 kg tại thời điểm ngày 24/11/2024 là: 1.463.000đồng. Như vậy, 03 thỏi nhôm nhập khẩu từ "Úc" tại thời điểm ngày 24/11/2024 trị giá 4.389.000 đ.
Vật chứng thu giữ: 06 thỏi nhôm và 01 xe đạp nhãn hiệu ASAMA.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Phương Trung yêu cầu bị cáo C bồi thường giá trị 03 thỏi nhôm.
Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 25/6/2025, VKSND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (nay là VKSND khu vực 11- Hải Phòng) truy tố bị cáo Nguyễn Thế C về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Ngày 23/7/2025, Nguyễn Thế C nộp trước tiền bồi thường 4.389.000đ theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/23 số 0002215 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Hải Phòng.
Tại phiên tòa:
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên: bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i, v, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thế C từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Công ty Phương Trung yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị 03 thỏi nhôm là 4.389.000 đồng. Trước khi mở phiên toà, bị cáo C đã tự nguyện nộp số tiền 4.389.000 đồng tại Phòng THADS khu vực 11- Hải Phòng để đảm bảo việc thi hành án vì vậy đề nghị HĐXX tuyên: Công ty Phương Trung được nhận số tiền trên tại Phòng THADS khu vực 11- Hải Phòng. Xử lý vật chứng: Áp dụng a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước giá trị chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA và giá trị 06 thỏi nhôm có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết số 326 của UBTVQH, buộc bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận hành vi đã chiếm đoạt 03 thỏi nhôm của Công ty Phương Trung và khẳng định VKSND khu vực 11- Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, khung khoản là đúng; bị cáo không đối đáp tranh luận; bị cáo từ chối nhận lại 06 thỏi nhôm. Lời nói sau cùng trong phiên tòa, bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người đại diện hợp pháp cho Công ty Phương Trung, người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp Biên bản giải trình camera, biên bản mô tả hành vi; Kết luận định giá tài sản số 04/KLĐG-HĐ ngày 05/5/2025 và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thế C là công nhân của Công ty Phương Trung, thuộc khu công nghiệp Hoàng Diệu, xã Gia Phúc, thành phố Hải Phòng. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, khoảng 17 giờ 45 phút ngày 24/11/2024, C đã có hành vi chiếm đoạt 03 thỏi nhôm (kiện nhôm số I9703-23) tại khu vực trước cửa xưởng 4.1 của Công ty Phương Trung, tổng trị giá 4.389.000đồng. C bán 03 thỏi nhôm trên được 1.820.000đ và chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công ty Phương Trung; gây mất trật tự trị an xã hội và tâm lý hoang mang trong các khu công nghiệp hiện nay; bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét về hành vi và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Gia Lộc (nay là khu vực 11- Hải Phòng) truy tố bị cáo C là có căn cứ, đúng pháp luật.
Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự xác định là người có nhân thân tốt; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường hết số tiền tương ứng giá trị tài sản chiếm đoạt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo được Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam tặng thưởng Huy hiệu Thợ mỏ vẻ vang năm 2018; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Đức T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b, i, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; nhân thân và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. HĐXX không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
Hình phạt bổ sung: Hiện tại bị cáo không còn việc làm, thu nhập không ổn định, không tài sản riêng, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền.
Trách nhiệm dân sự: Xét việc Công ty Phương Trung yêu cầu bị cáo bồi thường 4.389.000 đồng (giá trị 3 thỏi nhôm) là có căn cứ. Trước ngày mở phiên toà (23/7/2025) bị cáo đã nộp đủ tiền bồi thường tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 11- Hải Phòng; bị cáo đã thực hiện xong trách nhiệm bồi thường. Công ty Phương Trung được nhận tiền bồi thường tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 11-Hải Phòng.
Về vật chứng: Tại phiên toà, bị cáo khai chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA màu đỏ - đen kiểu dáng xe cào cào là tài sản riêng của bị cáo chuyên để đi lại trong Công ty. Quá trình điều tra chị Hương vợ bị cáo trình bày không biết về chiếc xe này, không phải là tài sản chung của vợ chồng. Bị cáo đã sử dụng chiếc xe ASAMA vận chuyển các thỏi nhôm để đưa ra ngoài, xác định là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tịch thu chiếc xe sung vào ngân sách Nhà nước.
06 thỏi nhôm là của bị cáo tự mua, bị cáo từ chối nhận lại; HĐXX tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b, i, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế C phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế C 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo Nguyễn Thế C cho UBND xã Ninh Giang, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo C có trách nhiệm phối hợp. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thế C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thế C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự;
Huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo C.
3. Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần thương mại Phương Trung được nhận 4.389.000đồng (giá trị tài sản bị thiệt hại do bị cáo Nguyễn Thế C tự nguyện bồi thường) tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 11- Hải Phòng; địa chỉ: số 433 đường 391 xã Tứ Kỳ, thành phố Hải Phòng (theo Biên lai thu tiền Ký hiệu BLTT/23 số 0002215 ngày 23/7/2025).
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước giá trị 06 thỏi nhôm và 01 xe đạp nhãn hiệu ASAMA (Đặc điểm các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/7/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng và Phòng THADS khu vực 11- Hải Phòng);
5. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 11- HP. - Cơ quan CSĐT Công an TPHP; - Cơ quan THAHS Công an TPHP; - Phòng THADS khu vực 11- HP; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ; lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thúy |