- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản đối với Phạm Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH Bản án số:04/2025/HS-ST Ngày: 23 - 7 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Bùi Trung Thành
Ông: Phạm Đức Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - TH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - TH tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 - THxét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn C; Tên gọi khác; Không; Sinh ngày 04/4/1999 tại tỉnh TH; Nơi thường trú: Thôn K, xã GT (nay là Thôn K xã GA), tỉnh TH; Căn cước công dân số: 038099000610; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa; 8/12; Con ông: Phạm Văn Q (đã chết) và bà Phạm Thị H - Sinh năm 1972: Vợ Hà Thị Ngọc L - Sinh năm 2005; Có 01 con sinh năm 2023. Tiền sự; Không.
Tiền án: Ngày 04/8/2022, bị Toà án nhân dân huyện LC xử 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, theo Bản án số 11/2022/HS-ST, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 15/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện LC Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Năm 2021 bị Công an huyện LC xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 29/7/2022 bị Công an huyện NL xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi trộm cắp tài sản;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Phạm Chiến C, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố TT, xã NL, tỉnh TH.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 18/3/2025 Phạm Văn C, trú tại Thôn K, xã GT, huyện LC (nay là Thôn K xã GA), tỉnh TH đi đến thị trấn NL (nay là xã NL) chơi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, C đi qua khu vực nhà văn hoá khu phố TT, xã NL thấy một số người đang chơi bóng chuyền nên C vào xin tham gia chơi cùng. Sau khi chơi một lúc thì C nghỉ ra ngoài ngồi xem mọi người chơi. Trong quá trình ngồi xem, C phát hiện chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung của anh Phạm Chiến C, trú tại khu phố TT, xã NL để ở chiếc quần bò đặt tại chân cột bóng chuyền. Quan sát thấy mọi người không để ý nên C đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài đường bắt xe khách về nhà ở xã GA, tỉnh TH. Khi về đến nhà C lấy điện thoại ra và tự nhập mật khẩu ngẫu nhiên bốn số “0000” thì mở được khóa. Sau khi mở được khoá C đã đổi mật khẩu điện thoại thành “phamchau” và để chiếc điện thoại để sử dụng. Sau đó thấy không thể trốn tránh được, ngày 21/3/2025 C đã đến Công an xã NL đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐG ngày 24/3/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34 5G, màu xám, đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 18/3/2025 có trị giá là 4.000.000đ”.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34 5G, màu xám, đã qua sử dụng, sau khi định giá Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì.
Bản cáo trạng số: 32CT-VKS - NL ngày 02/6/2025 của VKSND huyện NL (Nay là VKSND khu vực 10 - TH) tỉnh TH đã truy tố Phạm Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo Phạm Văn C từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/3/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên đề nghị không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đã trả lại tài sản cho người bị hại nên đề nghị không xem xét.
- Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 18/3/2025, Phạm Văn C đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung của anh Phạm Chiến C, tại khu phố TT xã NL, tỉnh TH, tài sản có trị giá là 4.000.000 đồng, cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Đây là vụ án trộm cắp tài sản có tính chất ít nghiêm trọng do Phạm Văn C thực hiện. Tuy nhiên hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an, xã hội trên địa bàn.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
[4.1] Bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4.2] Bị cáo là người có tiền án: Bị Toà án nhân dân huyện LC xử 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, tại Bản án số: 11/2022/HS-ST ngày 04/8/2022 chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
[4.3] Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 15/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện LC Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Năm 2021, bị Công an huyện LC xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 29/7/2022, bị Công an huyện NL xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) về hành vi trộm cắp tài sản.
[5] Về hình phạt. Từ những phân tích nêu trên chứng tỏ bị cáo là người không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ thái độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm, để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật, cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan CSĐT đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp, người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: HĐXX không xem xét.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn C.
- Tuyên bố: Phạm Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Phạm Văn C 13 (mười ba) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2025.
- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo vắng mặt người bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND Khu vực 10 - TH; - VKSND tỉnh TH; - Trại tạm giam Công an tỉnh TH; ( PC 11); - Cơ quan THAHS Công an tỉnh TH (PC 10 ); - Cơ quan CSĐTCA tỉnh TH ( PC 02); - Phân trại tạm giam khu vực CT, tỉnh TH; - TAND tỉnh TH; - Sở tư pháp tỉnh TH; - THADS tỉnh TH; - Lưu: Hồ sơ; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Trung Thành Phạm Đức Hoàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành |