vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Huy H phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Phan Huy H 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ.Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ một phần Th nhập đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm giao thông - phạm tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ (điều 264 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Huy H phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 264 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày: 20/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sỹ Danh Huệ.

Ông Nguyễn Văn Đức.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Q.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Hữu Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST

- HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Huy H, sinh năm 2004 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Thôn 5, xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Con ông: Phan Văn G và bà: Đinh Thị Th; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đinh Quang Đ, sinh năm 2003. Địa chỉ: Thôn 5, xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho anh Đ: Ông Đinh Văn Tr, sinh năm 1981 và bà Đinh Thị V, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn 5, xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội. Là bố mẹ đẻ của bị hại. Ông Tr và bà V có mặt.

+ Ông Phan Văn G, sinh năm 1981 và bà Đinh Thị Th, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn 5, xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội. Là bố mẹ đẻ của bị cáo H. Đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/7/2024 Phan Huy H cùng với H Tiến Luân (sinh năm 2004, HKTT: thôn Hội Hương, xã Yên Tr, huyện T, Thành phố Hà Nội) và Đinh Quang Đ (Sinh năm: 2003; HKTT: thôn 5, xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội) cùng đi sinh nhật bạn ở xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội. Luân đi một xe còn Đ điều khiển xe mô tô BKS: 29AU-026.71 (của H) chở H. Tại bữa sinh nhật, H, Đ, Luân và H Thị Lan Anh (Sinh năm: 2002; HKTT: thôn 4, xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội) cùng nhau ăn uống và có sử dụng rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ bảo H và Luân đi về nhà chuẩn bị đồ để ra phòng trọ ở đường Trịnh Văn Bô, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội thì H và Luân đồng ý. Khi ra lấy xe máy đi về, Đ có nói với H là: “Để anh lái cho” và H đồng ý mặc dù biết Đ vừa sử dụng rượu (đồ uống có cồn). Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô BKS: 29AU-026.71 chở H còn Luân một mình điều khiển xe đi phía sau cùng về nhà Đ ở xã T1, huyện T lấy quần áo. Sau khi lấy đồ xong, Đ vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 29AU-026.71 chở H ngồi phía sau đi ra phòng trọ ở đường Trịnh Văn Bô. Trên đường đi từ nhà Đ tại thôn 5, xã T1, huyện T đến đoạn lối rẽ ra đường gom T - Q Thộc địa phận thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Q, Thành phố Hà Nội thì trời tối và đang mưa to, do đã sử dụng rượu bia không làm chủ được tay lái, xe mô tô do Đ điều khiển đã đâm vào dải phân cách bằng kim loại và ngã văng ra lòng đường. Hậu quả: Đ bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Q nhưng do thương tích nặng đã tử vong; H bị sây sát da ở tay trái và vùng bả vai còn xe mô tô bị hư hỏng. Khoảng 0 giờ 10 phút ngày 29/7/2024, chị Phan Thị Hồng Hải (chị gái của H) được H báo tin gặp tai nạn nên đã đến hiện trường và báo tin cho Cơ quan công xã Ngọc Mỹ, huyện Q.

Phương tiện Th giữ: 01 xe mô tô BKS: 29AU-026.71 nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, số khung RLHJK0347RZ100036, số máy: JK03E5535225.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là mặt đường lối ra đường gom Đại lộ Thăng Long hướng Hòa Lạc đi Tr tâm Hà Nội Thộc xã Ngọc Mỹ, huyện Q, Thành phố Hà Nội. Mặt đường được trải nhựa thẳng, phẳng, xuống dốc, không khuất tầm nhìn, có bề trộng là 8 mét, vị trí tim đường có vạch sơn trắng đứt quãng đều chia mặt đường thành hai làn xe chạy. Đo từ vạch sơn đứt quãng đều ra mép đường bên trái hướng Hòa Lạc đi Tr tâm Hà Nội là 4 mét. Lề đường bên phải (đường đất) có bề rộng 160cm, tiếp G lề đường bên phải là hộ lan mềm bằng kim loại chạy dọc theo lề đường. Đầu lối rẽ ra đường gom Đại lộ Thăng Long là biển hạn chế tốc độ 60km/h, cuối lối rẽ là biển báo hiệu nơi đường giao nhau là ngã ba. Điểm cột mốc là cột đèn được ký hiệu T10T - 29B nằm bên lề đường bên phải, mép đường chuẩn là mép đường bên phải hướng Hòa Lạc đi Tr tâm Hà Nội.

Trên mặt đường phía chiều đường bên phải có để lại vết máu ký hiệu vị trí (1) vết máu diện (160x320)cm đo từ giữa vết máu ra mép đường chuẩn 270cm, từ giữa vết máu đo thằng về hướng Tr tâm Hà Nội 240cm là điểm vuông góc với điểm giữa tổ hợp dép nằm trên mặt đường tổ hợp dép vị trí (2) diện (90x110)cm đo từ giữa tổ hợp dép ra mép đường chuẩn 90cm. Từ giữa vết máu đo thằng về hướng Hòa Lạc là điểm vuông góc với cột đèn cao áp ký hiệu T10T-29B nằm trên là đường bên phải hướng Hòa Lạc đi Tr tâm Hà Nội.

Kết quả dựng lại hiện trường: Hiện trường để lại 01 xe mô tô BKS: 29AU - 026.71 được ký hiệu trên sơ đồ là (1); 01 vết máu được ký hiệu trên sơ đồ là (2), diện (160x320)cm; 01 tổ hợp dép được ký hiệu trên sơ đồ là (3), diện (90x110)cm. Điểm cột mốc là cột đèn được ký hiệu T10T - 29B nằm bên lề đường bên phải, mép đường chuẩn là mép đường bên phải hướng Hòa Lạc đi Tr tâm Hà Nội.

Trên mặt đường phía chiều đường bên phải có để lại xe mô tô BKS: 29AU-026.71 xe bị đổ sang trái của xe, đầu xe hướng tim đường, đuôi xe hướng mép đường chuẩn đo từ trục trước, trục sau xe này ra mép đường chuẩn lần lượt 380cm, 280cm. Từ trục sau xe 29AU-026.71 vị trí (1) thẳng về hướng Tr tâm Hà Nội 100cm là điểm vuông góc với giữa vết máu nằm trên mặt đường, vị trí (2) vết máu diện (160x320)cm đo từ giữa vết máu ra mép đường chuẩn 270cm. Từ giữa vết máu đo thằng Tr tâm Hà Nội 240cm là điểm vuông góc giữa tổ hợp dép vị trí (3) đo giữa tổ hợp dép ra mép đường chuẩn 90cm. Từ trục trước xe mô tô 29AU-026.71 đo thằng về hướng Hòa Lạc 140cm là điểm vuông góc với cột đèn cao áp ký hiệu T10T-29B.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 989/1006/KLGĐTT-TTPY ngày 08/08/2024 của Tr tâm pháp y Hà Nội xác định: Tử thi có nhiều vết xây xát, bầm tím da vùng đầu mặt, tay trái, chân phải; Biến dạng xương vùng trán, thái dương phải; Gãy xương hàm trên. Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Mẫu máu của nạn nhân Đ có Ethanol, nồng độ 161,05 mg Ethanol trong 100ml máu. Không tìm thấy các chất ma túy. Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.

Tại bản kết luận giám định dấu vết số 8420/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, xác định: Dấu vết trượt xước, dính chất màu ghi (dạng sơn) ở mặt ngoài cánh yếm bên trái và ốp nhựa sườn bên trái xe có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với vật cứng có sơn màu ghi (dạng dải tôn chắn sóng) (ảnh 3, 4, 5 trong bản ảnh giám định); Dấu vết trượt xước ở đầu tay lái và tay phanh bên phải, ở mặt ngoài ốp nhựa phía dưới sàn để chân trước bên phải, ở mặt dưới bàn để chân sau bên phải (tư thế gập), ở mặt ngoài ốp ống xả, ở bên phải tay nâng sau có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dầu vết hình thành do va chạm với mặt đường khi xe mô tô đổ nằm nghiêng bên phải trên mặt đường (ảnh 6, 7, 8, 9, 10, 11 trong bản ảnh giám định); không xác định được tốc độ của xe mô tô BKS: 29AU-026.71 trước khi xảy ra tai nạn. (BL số 60-65).

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô BKS: 29AU-026.71 là Phan Huy H, sau khi phục vụ công tác điều tra, ngày 29/10/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định số 1898 trả lại chiếc xe trên cho H quản lý và sử dụng.

Về dân sự: gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh Đ số tiền 50.000.000 đồng. Ông Đinh Văn Tr (bố đẻ của anh Đ) đã nhận tiền và không có yêu cầu gì khác.

Quá trình điều tra vụ án, Phan Huy H đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản dựng lại hiện trường, dấu vết để lại trên phương tiện, kết luận giám định, lời khai người làm chứng, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã Th thập được.

Bản cáo trạng số 109/CT – VKSQO ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đã truy tố bị cáo Phan Huy H tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.

- Bố, mẹ của anh Đ trình bày: Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 50.000.000đ, hai gia đình cũng là họ hàng ruột thịt, bị cáo đang là sinh viên nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cơ hội để tiếp tục đi học. Ông bà không có yêu cầu gì khác về dân sự.

- Bố, mẹ bị cáo trình bày: Ông bà tự nguyện thay bị cáo bồi thường cho gia đình anh Đ 50.000.000đ và không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại cho ông bà số tiền này. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Huy H phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt Phan Huy H từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND xã T1, huyện T giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

+ Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

+ Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên đề nghị không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự nguyện thay bị cáo khắc phục hậu quả và không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên không xem xét.

+ Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo và không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 28/7/2024, mặc dù biết anh Đinh Quang Đ đã sử dụng rượu (nồng độ cồn trong máu là của anh Đ là 161,05 mg Ethanol/100ml máu) nhưng Phan Huy H vẫn đồng ý giao cho anh Đ điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Vision, BKS: 29AU-026.71 (dung tích xi lanh 109,5 cm3) chở H ngồi phía sau đi từ thôn 5, xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội) đến phòng trọ ở phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Khoảng 23 giờ ngày 28/07/2024, khi anh Đ chở H đi đến đoạn lối rẽ ra đường gom T - Q Thộc địa phận thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Q, Thành phố Hà Nội, lúc này trời tối và đang mưa to, do đã sử dụng rượu bia không làm chủ được tay lái, xe mô tô do Đ điều khiển đã đâm vào dải phân cách bằng kim loại và ngã văng ra lòng đường. Hậu quả anh Đ tử vong.

Hành vi nêu trên của Phan Huy H đủ yếu tố cấu thành tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, đến sức khỏe và tính mạng của công dân. Trước thời điểm xảy ra tai nạn, bị cáo và anh Đinh Quang Đ có tham gia tiệc sinh nhật, ngồi cùng một mâm và cùng nhau uống rượu. Bị cáo cũng nhận thức được việc đã uống rượu, bia mà vẫn điều khiển xe máy là vi phạm Luật giao thông đường bộ nhưng vẫn đồng ý giao xe Thộc sở hữu hợp pháp của mình cho anh Đ điều khiển tham gia giao thông. Do thời tiết xấu, trời tối, không có đèn đường nên xe bị mất lái tự đâm vào dải phân cách bên trái lối mở từ đường cao tốc Láng – Hòa Lạc ra đường gom Đại lộ Thăng Long khiến anh Đ tử vong. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đối với anh Đinh Quang Đ đã sử dụng rượu đồng thời chưa có giấy phép lái xe mô tô nhưng vẫn điều khiển xe tham gia giao thông, vi phạm và khoản 8 và 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Tuy nhiên, anh Đ đã chết sau tai nạn nên CQĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; Phạm tội lần đầu và Thộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bố mẹ bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Đ thay bị cáo; Tại phiên tòa, gia đình anh Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo đang là sinh viên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Miễn khấu trừ một phần Th nhập đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình anh Đ không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xem xét.

Ông Phan Văn G và bà Đinh Thị Th (bố, mẹ của bị cáo) không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 50.000.000đ mà ông bà đã bồi thường cho gia đình anh Đ thay bị cáo nên không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Huy H phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Huy H 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ.Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Q nhận được quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ một phần Th nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo cho UBND xã T1, huyện T, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ