- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H,
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HS-PT Ngày 10 tháng 01 năm 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.
Thẩm phán:
- Ông Trần Anh Khoa;
- Bà Bùi Thị Bích Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụsở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2024/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 187/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị H, sinh năm: 1989, tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị L. Có chồng (đã ly hôn) và có 02 (hai) người con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 27 tháng 3 năm 2023, Nguyễn Thị H đến làm người giúp việc cho vợ chồng ông Lương Đình H1 và bà Nguyễn Thị N1 tại tổ C cụm E, phường P, quận T, thành phố Hà Nội. Đến ngày 29 tháng 3 năm 2023, H cùng gia đình ông H1 đến sinh sống tại căn hộ S chung cư H - địa chỉ: số D đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08 tháng 5 năm 2023, thấy vợ chồng ông H1, bà N1 đi ra khỏi căn hộ, H đã lén lút lấy 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) trong túi xách của bà N1, 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) và một vali màu hồng trong phòng ngủ ông H1 rồi đón xe khách đến tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, H dùng đá đập vỡ vali lấy được 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi lăm triệu đồng) cùng một số giấy tờ rồi vứt bỏ vali. H tiếp tục đón xe đi đến thành phố P, tỉnh Gia Lai. H vào tiệm vàng trên đường nhờ chuyển 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng của H. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, H chuyển trả lại cho ông H1 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và nộp tài khoản trò chơi trên mạng chơi hết 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Sau đó, H về nhà tại tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 187/2024/HS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt.
Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trình bày lời bào chữa và nói lời sau cùng, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, nên nội dung kháng cáo của bị cáo được cấp phúc thẩm xem xét.
. Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận những hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án cùng với các chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại căn hộ S chung cư H - địa chỉ: số D đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Thị H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tổng cộng 139.500.000 đồng (một trăm ba mươi chín triệu năm trăm nghìn đồng) của ông Lương Đình H1 và bà Nguyễn Thị N1. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Thị H đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, phạm tội nghiêm trọng. Vì vậy cần cách ly xã hội mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời ngăn ngừa các hành vi tương tự.
Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Mức phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
. Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H,
G nguyên bản án sơ thẩm:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H,
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10 tháng 01 năm 2025).
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I – TANDTC; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Khánh Hòa; - TAND thành phố Nha Trang; - VKSND thành phố Nha Trang; - Cơ quan điều tra - Công an thành phố Nha Trang; - Cơ quan thi hành án hình sự - Công an thành phố Nha Trang; - Chi cục THA dân sự thành phố Nha Trang; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Trung |