- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức D bị xét xử về tội "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 08/QĐKN-VC3-V1 ngày 12/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 04/2025/HS-GĐT Ngày 20 tháng 01 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Phạm Thị Duyên;
Các Thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: Ông Phan Thanh Tùng;
Ông Võ Văn Khoa;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Cẩm Linh - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm đối với:
Nguyễn Đức D, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Văn Á (đã chết) và bà Đỗ Thị Thanh H, sinh năm 1978; sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1999; có 01 con, sinh năm 2021; tiền sự: không; tiền án: Ngày 25/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 104/2015/HSST (đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 28/9/2018 nhưng chưa được xóa án tích). Ngày 15/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2020/HS-ST (đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/10/2022 nhưng chưa được xóa án tích); nhân thân: Ngày 21/11/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2023/HS-ST; bị tạm giam ngày 28/7/2023.
Bị hại: Ông Đinh Văn B, sinh năm 1989; địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Ngoài ra, vụ án còn 02 người bị kết án khác là Nguyễn Anh T1, Trần Quang T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào khoảng 21 giờ ngày 18/3/2023, anh Đinh Văn B cùng nhóm bạn đến quán K thuộc Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai để ca hát. Đến khoảng 00 giờ ngày 19/3/2023, do mâu thuẫn trong việc trả tiền nên xảy ra cự cãi giữa anh Nguyễn Xuân Đ và chị Nguyễn Kim T3. Biết tin, Nguyễn Anh T1 (bạn trai của T3) mang theo một cây dũ sắt dài 70 cm, điều khiển xe mô tô biển số 60B3-884.45 đến quán karaoke. Đến nơi, T1 liền lấy cây dũ sắt rượt đuổi nhóm của anh B ra trước cổng quán ngay đường, đánh liên tiếp hai cái vào đầu và vai của anh Lê Quang Q (trong nhóm bạn của anh B) làm vỡ nón bảo hiểm và xây xát nhẹ trên người, T1 tiếp tục quay sang đánh nhiều cái vào vùng đầu, người, tay của anh B. Lúc này, Nguyễn Đức D và Trần Quang T2 là bạn của T1 đang hát ở quán karaoke thấy sự việc nên D liền lấy một cây dũ cao su dài 50 cm, mang theo bên người đuổi theo giúp T1 đánh nhóm của anh B, D dùng cây dũ cao su đánh liên tiếp nhiều cái vào cơ thể anh B. Ngoài ra, D còn lấy 01 chậu trồng cây cảnh đập vào người anh B. Khi thấy T1, D đánh anh B, T2 cũng xông vào sử dụng tay, chân đánh, đá nhiều cái vào vùng đầu và người của anh B gây náo loạn cả một khu vực. Ngày 21/3/2023, anh Đinh Văn B có đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với T1, D, T2.
Tại Kết luận giám định số 2671/KLTTCT-C09B ngày 27/4/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C đối với anh Đinh Văn B, kết luận: Sẹo vùng đỉnh đầu 02%; sẹo vùng đỉnh đầu - Thái dương trái 02%; sẹo vùng thái dương phải: 02%, tổng cộng là 06%.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, anh B xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với các bị cáo T1, D và T2.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 28/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai quyết định:
Áp dụng Điều 55; Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ một phần vụ án hình sự đối với các bị cáo T1, D và T2 về tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt T1 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng các điểm b, e khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt D 03 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Tuyến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử, bị cáo T1 và T2 kháng cáo giảm nhẹ hình phạt.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 227/2024/HSPT ngày 29/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T1 và T2, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm và kiến nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xem xét lại bản án hình sự sơ thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm về nội dung đối với tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 08/QĐKN-VC3-V1 ngày 12/12/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai vì hành vi gây thương tích của D thuộc khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự nên không thuộc trường hợp đình chỉ vụ án. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần đình chỉ đối với D về tội danh “Cố ý gây thương tích”.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại thời điểm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng vào ngày 19/3/2022, Nguyễn Đức D đang có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Vì vậy, hành vi phạm tội mới này của D thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung thuộc điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi gây thương tích của D không thuộc trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại. Tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, bị hại rút yêu cầu khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 155; Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ một phần vụ án hình sự đối với Nguyễn Đức D về tội danh “Cố ý gây thương tích” là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
[2] Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm về phần đình chỉ vụ án hình sự của Nguyễn Đức D đối với tội danh “Cố ý gây thương tích” để xét xử lại theo đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 388, Điều 391 và Điều 395 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 08/QĐKN-VC3-V1 ngày 12/12/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về phần đình chỉ vụ án hình sự của Nguyễn Đức D đối với tội danh “Cố ý gây thương tích” để xét xử lại.
3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
4. Trường hợp, bị cáo Nguyễn Đức D đang chấp hành hình phạt tù đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai thì tiếp tục giam Nguyễn Đức D cho đến khi Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai thụ lý lại vụ án.
5. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Chánh án TANDCC tại TP.HCM; -VKSNDCC tại TP.HCM (kèm hồ sơ vụ án); -TAND, VKSND tỉnh Đồng Nai; -TAND, VKSND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; -VKSND, Chi cục THADS, Công an và Cơ quan THAHS Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; -UBND xã Phú Xuân, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; -Người bị kết án (theo địa chỉ); -Bị hại; -Lưu PLTHS, P.GĐKT1, HS, THS (TTCL). | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Duyên |