vanban.org

Bản án 04/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Lê Hoàng Â. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X được ly hôn với ông Lê Hoàng Â. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Trần Thị X và Lê Hoàng Â"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17-01-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Sơn Tây;

Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Hiền, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 448/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 135/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1995; thường trú: Ấp A, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; tạm trú: khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Lê Hoàng Â, sinh năm 1988; thường trú: Ấp A, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; tạm trú: khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt lần thứ 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 10 năm 2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày:

Bà Trần Thị X và ông Lê Hoàng  tự nguyện tìm hiểu yêu thương và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 20-9-2017, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển đến thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để sinh sống và làm ăn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau cho đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Hai vợ chồng nhiều lần ngồi lại để nói chuyện hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Vợ chồng hiện nay đã sống ly thân với nhau. Khi biết bà X nộp đơn lên Toà án yêu cầu giải quyết ly hôn thì ông  cũng không quan tâm, không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Bà X xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Â.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có con 02 chung tên là Lê Hoàng Q, sinh ngày 18/12/2017 và Lê Ngọc T, sinh ngày 28/10/2019. Hiện nay, cháu Lê Hoàng Q đang sống cùng bố và bà nội nên giao cho bố là ông  được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà X yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Lê Ngọc T. Không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con và bà X cũng không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

+ Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông Lê Hoàng  đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Lê Hoàng  đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn bà Trần Thị X có đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Trần Thị X và ông Lê Hoàng  kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang vào ngày 20-9-2017, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72 nên hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Theo bà X trình bày thì sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong cuộc sống, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung với nhau nên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn rồi cãi vã lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2024 đến nay.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập nhưng ông  không đến Tòa án làm việc, tham gia các buổi hòa giải, tham gia phiên tòa để Tòa án hòa giải vợ chồng đoàn tụ, điều này thể hiện ông  không có thiện chí xây dựng gia đình hạnh phúc. Hơn nữa, từ khi ly thân, ông  không tìm cách hòa giải mâu thuẫn vợ chồng, điều đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà X và ông  không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, bền vững, hiện nay mỗi người có cuộc sống riêng, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X về việc ly hôn với ông Â.

Về con chung: Giữa bà X và ông  có 02 con chung tên Lê Hoàng Q, sinh ngày 18/12/2017 và Lê Ngọc T, sinh ngày 28/10/2019. Hiện nay cháu Lê Hoàng Q đang sống cùng ông Â. Cháu Lê Ngọc T đang sống cùng bà X. Bà X có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Ngọc T, giao cháu Lê Hoàng Q cho ông  được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Lê Hoàng Q cũng có văn bản trình bày nguyện vọng muốn được sống cùng với ông Â. Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt, nhu cầu thiết yếu, cần thiết giao con chung Lê Hoàng Q cho ông  trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung Lê Ngọc T cho bà X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Bà X không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con chung và bà X cũng không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Từ những phân tích trên, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà X về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Â.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Lê Hoàng Â.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị X được ly hôn với ông Lê Hoàng Â.

- Về con chung: Giao con chung tên Lê Hoàng Q, sinh ngày 18/12/2017 cho ông Lê Hoàng  trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung tên Lê Ngọc T, sinh ngày 28/10/2019 cho bà Trần Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị X về việc không yêu cầu ông Lê Hoàng  cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

Bà Trần Thị X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004620 ngày 05/11/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ