vanban.org

Bản án 04/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị H ly hôn với anh Đặng Anh S. Về con chung: Giao cháu Đặng Ngọc H, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2017 và cháu Đặng Anh P, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020 cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Trần Thị H; BĐ: Đặng Anh S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – ĐĂK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 8 năm 2025
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tiến Dũng, ông Lương Tú Huân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2025/TLST–HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố 9, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Đặng Anh S, sinh năm 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố 9, xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Trần Thị H trình bày tóm tắt:

Chị với anh Đặng Anh S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 11 tháng 01 năm 2016, tại Ủy ban nhân dân xã Hòa P, thành phố Buôn Ma t, tỉnh Đắk Lắk. Anh chị có 02 con chung là cháu Đặng Ngọc H, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2017 và cháu Đặng Anh P, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020. Tài sản chung và nợ chung anh chị tự thỏa thuận nên không kê khai. Trong quá trình chung sống, anh chị có quan điểm sống trái ngược nhau, có quá nhiều mâu thuẫn, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh S. Về con chung: Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng 02 con chung đến tuổi trưởng thành. Còn về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Đặng Anh S trình bày tóm tắt:

Mặc dù anh chị có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn nhỏ nhặt, không đáng kể, anh chị còn sống hạnh phúc nên anh không đồng ý ly hôn. Trường hợp chị H quyết tâm ly hôn, thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, thì anh có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung.

Tại phiên tòa, anh S đồng ý ly hôn với chị H, đồng ý giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cháu Đặng Ngọc H trình bày tóm tắt:

Sau khi ba mẹ cháu ly hôn, thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ.

Tại Giấy chứng nhận kết hôn số 04/2016, quyển số 01/2015 ngày 11 tháng 01 năm 2016 của Ủy ban nhân dân xã Hòa P, thành phố Buôn Ma T, tỉnh Đắk Lắk chứng nhận:

Chị Trần Thị H, sinh năm 1992 và anh Đặng Anh S, sinh năm 1987 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa P, thành phố Buôn Ma T, tỉnh Đắk Lắk ngày 11 tháng 01 năm 2016.

Tại Biên bản xác minh, UBND xã Ea D, tỉnh Đắk Lắk cung cấp thông tin tóm tắt như sau: Chị H và anh S xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, còn mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Khẳng định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đương sự chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Chị Hòa có đơn xin xét xử vắng mặt.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H ly hôn với anh S. Về con chung: Giao con chung cho chị H nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung chị H và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

. Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thụ lý vụ án:

+ Chị H và anh S là vợ chồng (Có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật). Hiện nay, chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con. Như vậy quan hệ pháp luật ở đây là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con " được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

+ Chị H khởi kiện và có nộp tiền tạm ứng án phí. Anh S có hộ khẩu thường trú ở huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk (Nay là TAND khu vực 9 – Đắk Lắk) căn cứ vào các Điều 35; 39; khoản 3 Điều 195 của BLTTDS để thụ lý vụ án.

. Về thủ tục tố tụng:

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng các bên đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Chị H xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án căn cứ Điều 227 của BLTTDS tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

. Về nội dung quan hệ pháp luật có tranh chấp:

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Hòa, thì Hội đồng xét xử xét thấy:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh S phát sinh mâu thuẫn, quan điểm sống trái ngược nhau, dẫn đến anh chị không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện tại giữa chị Hòa và anh S. Tại phiên tòa, anh S đồng ý ly hôn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, ghi nhận ý kiến của anh S và chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát, cho chị H ly hôn với anh S.

+ Về con chung:

Chị H và anh S có 02 con chung là cháu Đặng Ngọc H, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2017 và cháu Đặng Anh P, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020. Nguyện vọng của chị H là nuôi dưỡng con chung. Mặc dù quá trình giải quyết vụ án, anh S cũng có nguyện vọng nuôi con chung. Nhưng tại phiên tòa, anh S đồng ý giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng. Vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, ý kiến của anh S và chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát, giao con chung cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh S không yêu cầu giải quyết vì vậy HĐXX cũng không xem xét.

. Về án phí: Vì đây là vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, thì nguyên đơn (Chị H) vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con.

+ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị H ly hôn với anh Đặng Anh S.

+ Về con chung: Giao cháu Đặng Ngọc H, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2017 và cháu Đặng Anh P, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2020 cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi).

Anh Đặng Anh S có quyền, nghĩa vụ chăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp anh Đặng Anh S lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, thì chị Trần Thị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Đặng Anh S.

2. Về án phí:

Chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. Được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0002729 ngày 16 tháng 4 năm 2025.

3. Về quyền và thời hạn kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ