vanban.org

Bản án 04/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka Nh và anh Tam Bou B được ly hôn.

Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Ka N; sinh ngày 26/01/2016 và Ka H; sinh ngày 21/12/2017 cho chị Ka Nh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tam Bou B không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nh và B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka Nh và anh Tam Bou B được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17-01-2025
V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Trâm và bà Lê Thị Chung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 408/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXX-TA ngày 13 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-DS, ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án huyện Di Linh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chi Ka Nh, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số 11, thôn Ka La K, xã Bảo T, huyện Di L, tỉnh Lâm Đ.

- Bị đơn: Anh Tam Bou B; sinh năm 1997. Địa chỉ: Số 08 Tổ dân phố Ka M thị trấn Di L, huyện Di L, tỉnh Lâm Đ.

Tại phiên tòa chị Ka Nh có mặt, vắng mặt anh Tam Bou B không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Ka Nh trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị và Anh Tam Bou B sống chung có đăng ký kết hôn vào ngày 26/10/2017 tại UBND xã Bảo Thuận, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng sống chung nhà với bố mẹ chị Ka Nh tại xã Bảo Thuận. Đến khoảng tháng 5/2022 vợ chồng mâu thuẫn là do anh Tam Bou B thường hay uống rượu, tụ tập bạn bè không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến kinh tế khó khăn. Từ đầu tháng 3/2023 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Anh Tam Bou B về tổ dân phố Ka Ming, thị trấn Di Linh sinh sống với gia đình bố mẹ đẻ, chị Ka Nh ở lại xã Bảo Thuận nuôi dạy hai con chung đến nay. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không qua lại, không có phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng gì cả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ka Nh xin ly hôn với anh Tam Bou B.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Ka N; sinh ngày 26/01/2016 và Ka H; sinh ngày 21/12/2017. Từ Khi vợ chồng ly thân, Chị Ka Nh là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Khi ly hôn chị Ka Nh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Tam Bou B cấp dưỡng nuôi con. Chi Ka Nh cam kết không có con chung, không có con riêng nào khác, sức khỏe của chị bình thường, không thai nghén gì cả. Hiện nay chị làm vườn cà phê, thu nhập khoảng 15.000.000đ/ 01 tháng. Ngoài ra cón có phụ phục vụ đám cưới, bán rau Bầu bí thu nhập thêm khoảng 6.000.000đ/01 tháng.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, Tài sản riêng của mỗi người tự quản lý. Khi ly hôn không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Vợ chồng cũng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản của vợ chồng. Chi Ka Nh tự nguyện chịu án phí theo quy định.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con.

Anh Tam Bou B trình bày: Việc đăng ký kết hôn, thời gian sống chung như chị Ka Nh trình bày là đúng. Mâu thuẫn gia đình thì anh có uống rượu, tụ tập bạn bè nhưng vẫn đi làm. Khi chị Ka Nh đuổi đi thì anh có về lại nhà bố mẹ ruột tại tổ dân phố Ka Ming, thị trấn Di Linh sinh sống. Hiện nay chị Ka Nh cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn. Tuy nhiên về con chung, anh yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung, không yêu cầu Ka Nh cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, Tài sản riêng của mỗi người tự quản lý. Khi ly hôn anh không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Vợ chồng cũng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản của vợ chồng.

Hiện nay anh Tam Bou B làm nghề bốc vác rau củ quả tại thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Thu nhập không ổn định vì lúc có hàng lúc không, ngoài ra không có thu nhập nào khác. Khi nào có việc cần thì anh Tam Bou B mới về Di Linh. Đúng là từ khi ly thân thì các con chung ở với chị Ka Nh đến nay.

Kết quả xác minh tại Hội phụ Nữ xã Bảo Thuận cụ thể như sau:

Vợ chồng ly thân từ tháng 3/2023 đến nay, anh Tam Bou B về ở chung với bố mẹ ruột tại tổ dân phố Ka Ming, thị trấn Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, chị Ka Nh ở lại xã Bảo Thuận để nuôi dạy các con chung cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Tam Bou B hay uống rượu, không chăm lo cho gia đình.

Tại phiên Tòa.

Chị Ka Nh trình bày: Trước khi làm đơn xin ly hôn, chị có trao đổi với anh Tam Bou B và hai bên gia đình rồi. Trong thời gian ly thân, anh Tam Bou B cũng không thường xuyên đến thăm nom các con chung. Về yêu cầu xin ly hôn, Ka Nh không còn yêu thương anh Tam Bou B nên giữ nguyên ý kiến xin ly hôn và xin trực tiếp nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung tranh chấp. Đề nghị căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về phần án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Các đương sự có nơi đăng ký thường trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về hôn nhân. Có yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Di Linh giải quyết việc ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.

Nội dung tranh chấp.

Về quan hệ hôn nhân: chị Ka Nh và anh Tam Bou B sống chung có đăng ký kết hôn vào ngày 26/10/2017 tại UBND xã Bảo Thuận, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng sống chung nhà với bố mẹ chị Ka Nh tại xã Bảo Thuận. Đến khoảng tháng 5/2022 vợ chồng mâu thuẫn là do anh Tam Bou B thường hay uống rượu, tụ tập bạn bè không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến kinh tế khó khăn. Từ đầu tháng 3/2023 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Ka Nh xin ly hôn, anh Tam Bou B cũng đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho chị Ka Nh và anh Tam Bou B sống được ly hôn là phù hợp.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Ka N; sinh ngày 26/01/2016 và Ka H; sinh ngày 21/12/2017. Từ khi vợ chồng ly thân, Chị Ka Nh là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Khi ly hôn chị Ka Nh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Tam Bou B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy con chung còn rất nhỏ. Bản thân chị Ka Nh có thu nhập, công việc và chỗ ở ổn định. Anh Tam Bou B làm công việc bốc xếp tại huyện Đức Trọng, thu nhập và điều kiện chăm sóc con chung chưa thật tốt. Nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường cho con nhỏ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con chung. Khi Tòa án giải quyết ly hôn cần giao 02 con chung cho Ka Nh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tam Bou B không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Ka Nh phải chịu án phí xin ly hôn là đúng quy định.

Xét quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56; Điều 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka Nh và anh Tam Bou B được ly hôn.

2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Ka N; sinh ngày 26/01/2016 và Ka H; sinh ngày 21/12/2017 cho chị Ka Nh trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tam Bou B không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về phần tài sản: Không đề cập giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ka Nh phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn. Chị Ka Nh đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0004348, ngày 15/11/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ka Nh có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tam Bou B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

CÁC HỘI THẨM NÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ