- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Kim H khởi kiện Lê Quốc V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Kim H đối với anh Lê Quốc V về việc “Tranh chấp ly hôn”.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-7-2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Phương Hạnh
Ông Lê Văn Công
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 150/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2025, Thông báo mở lại phiên tòa số 10/2025/TB-TA ngày 03 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Kim H, sinh năm 2003
Địa chỉ: A đường C, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Quốc V, sinh năm 1995
Địa chỉ: Tổ G, khu phố B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-4-2025 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đinh Thị Kim H trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, chị Đinh Thị Kim H và anh Lê Quốc V tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 23-5-2023.
Sau khi về chung sống, thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó giữa hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, hai vợ chồng ly thân từ năm 2024.
Nay chị H khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Quốc V.
- Về con chung: Chị H và anh V không có con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Tất cả các đương sự đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có ý kiến như sau:
Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa chị Đinh Thị Kim H và anh Lê Quốc V là tranh chấp ly hôn; bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:
Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt. Nguyên đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của nguyên đơn là hợp lệ. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Kim H và anh Lê Quốc V chung sống với nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 23 tháng 5 năm 2023 nên là hôn nhân hợp pháp.
Theo nguyên đơn trình bày: Sau khi về chung sống, thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó giữa hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, chị H và anh Đ cũng đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Theo kết quả xác minh tại Công an phường P, thành phố B (nay là phường B) thể hiện khi còn ở chung thì chị H và anh V cũng thường xuyên mâu thuẫn, anh V hay đánh đập chị H, chị H cũng đã chuyển đi nơi khác sinh sống.
Quá trình giải quyết vụ án, anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Qua lời khai của chị H cũng như kết quả xác minh do Công an phường B cung cấp thì quá trình chung sống giữa chị H và anh V thường xuyên mâu thuẫn, anh V có hành vi đánh đập chị H, hai vợ chồng cũng đã ly thân từ năm 2024. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh V đến Tòa làm việc nhưng anh V vẫn vắng mặt cho thấy anh V không có ý thức mong muốn hàn gắn gia đình. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H với anh V là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
. Về con chung: Chị H trình bày chị và anh Đ không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết nội dung vụ án phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Đinh Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;
Các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Kim H đối với anh Lê Quốc V về việc “Tranh chấp ly hôn”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Kim H được ly hôn với anh Lê Quốc V.
2. Về con chung: Chị Đinh Thị Kim H và anh Lê Quốc V không có con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình: Chị Đinh Thị Kim H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001878 ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 12- Thành phố Hồ Chí Minh). Như vậy, chị H đã nộp xong án phí hôn nhân gia đình.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ để yêu cầu giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TP Hồ Chí Minh; - VKSND KV 12- TP Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS KV 12 - TP Hồ Chí Minh; - UBND phường Bà Rịa, TP Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Lê Thị Hoa |