- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Mlô H'pl và anh Nay Kh"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 25/7/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH GIA LAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Ksor P
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ksor H’Q và bà Võ Thị Phương L
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hải B - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh Gia Lai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nay S - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Cơ sở 2 Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 12/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Mlô H’Pl, sinh năm 1997
Địa chỉ: Buôn Choanh, xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Nay là Buôn
Choanh, xã Uar, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Bị đơn: Anh Nay Kh, sinh năm 1992
Địa chỉ: Buôn Choanh, xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Nay là Buôn
Choanh, xã Uar, tỉnh Gia Lai.
Trú tại: Buôn Ngôl, xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Nay là Buôn Ngôl, xã
Uar, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng cũng như trong đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Mlô H’Pl trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nay Kh đã tìm hiểu và lấy nhau trên cơ sở tình cảm tự nguyện có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai theo quy định của pháp luật ngày 25/10/2016. Trong quá trình chung sống, giữa chị và anh Nay Kh thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vả to tiếng với nhau xuất phát từ việc anh Nay Kh hay say xỉn, nhậu nhẹt bê tha, cờ bạc và những nguyên nhân nhỏ nhặt, anh chị không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không thấu hiểu và thông cảm cho nhau nên cuộc sống vợ chồng nặng nề, không hạnh phúc. Mặc dù mâu thuẫn đã được hai bên gia đình và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không được, anh chị đã ly thân từ lâu. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, vợ chồng không có chí hướng xây dựng gia đình, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Nay Kh.
Về con chung: chị và anh Nay Kh có 02 (hai) con tên là Mlô H’Bảo Y, sinh ngày 08/3/2014 và Mlô H’Sơm, sinh ngày 15/8/2018. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chưa thành niên là Mlô H’Bảo Y, sinh ngày 08/3/2014 và Mlô H’Sơm, sinh ngày 15/8/2018.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Nay Kh phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và thực hiện các nghĩa vụ chung về tài sản: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn anh Nay Kh mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai hay ý kiến gì có trong hồ sơ vụ án.
Phát biểu ý kiến sau phần tranh luận, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; Tại phiên toà Hội đồng xét xử cũng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên toà cho đến trước khi nghị án;
Nội dung vụ án, Kiểm sát viên có quan điểm: Áp dụng Điều 28, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, , Điều 238, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 9, 51, 53, 54, 55, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 – Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm, xử:
- Về hôn nhân: Chị Mlô H’Pl được ly hôn với anh Nay Kh trước pháp luật.
- Về con chung: Giao con chưa thành niên là Mlô H’Bảo Y, sinh ngày 08/3/2014 và Mlô H’Sơm, sinh ngày 15/8/2018 cho chị Mlô H’Pl trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Nay Kh không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Mlô H’Pl không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn: Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Mlô H’Pl phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc tham gia tố tụng của đương sự: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nay Kh như thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập…theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh Nay Kh không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng; Giai đoạn xét xử vụ án Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Nay Kh vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Còn nguyên đơn chị Mlô H’Pl đã nhận được quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn xin được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án cũng như trong đơn xin được xét xử vắng của nguyên đơn để quyết định. Các đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về hôn nhân: Chị Mlô H’Pl và anh anh Nay Kh đi đến hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện của hai bên và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai vào ngày 25/10/2016 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống chị Mlô H’Pl và anh Nay Kh có phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt nghiêm trọng. Chị Mlô H’Pl và anh Nay Kh không chung sống với nhau từ lâu, hiện tình cảm chị Mlô H’Pl giành cho anh Nay Kh đã hết nên chị Mlô H’Pl đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nay Kh trước pháp luật.
Ngày 07/3/2025, Tòa án đã xác minh tại buôn Choanh và buôn Ngôl, xã Uar, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai ( nay là buôn Choanh và buôn Ngôl, xã Uar, tỉnh Gia Lai) về những mâu thuẫn hôn nhân giữa chị Mlô H’Pl và anh Nay Kh. Kết quả xác minh thể hiện việc chị Mlô H’Pl và anh Nay Kh có mâu thuẫn, to tiếng với nhau, anh Nay Kh thường say xỉn, không chăm lo cuộc sống gia đình, đời sống chung không hạnh phúc.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Mlô H’Pl và anh Nay Kh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn với anh Nay Kh của chị Mlô H’Pl là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị Mlô H’Pl và anh Nay Kh có 02 (hai) con tên là Mlô H’Bảo Y, sinh ngày 08/3/2014 và Mlô H’Sơm, sinh ngày 15/8/2018. Sau khi ly hôn, chị Mlô H’Pl có nguyện vọng được nuôi con chưa thành niên là Mlô H’Bảo Y, sinh ngày 08/3/2014 và Mlô H’Sơm, sinh ngày 15/8/2018. Do anh Nay Kh không đến Tòa án, không có quan điểm, trình bày nguyện vọng; bên cạnh đó, tại Đơn xin xác nhận của cháu Mlô H’Bảo Y và Mlô H’Sơm (có xác nhận của UBND xã Uar) thể hiện các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Mlô H’Pl nên cần giao con chưa thành niên là Mlô H’Bảo Y, sinh ngày 08/3/2014 và Mlô H’Sơm, sinh ngày 15/8/2018 cho chị Mlô H’Pl chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tòa án đã giải thích cho chị Mlô H’Pl biết về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con vì lợi ích của con của người trực tiếp nuôi con nhưng chị Mlô H’Pl vẫn không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con là anh Nay Kh phải cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, hiện tại anh Nay Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Mlô H’Pl không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Mlô H’Pl phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 4, 5, 6; khoản 1 Điều 28, Điều 39; Khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chị Mlô H’Pl được ly hôn với anh Nay Kh trước pháp luật.
- Về con và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chưa thành niên tên là Mlô H’Bảo Y, sinh ngày 08/3/2014 và Mlô H’Sơm, sinh ngày 15/8/2018 cho chị Mlô H’Pl được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh Nay Kh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh Nay Kh được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Nếu anh Nay Kh lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Chị Mlô H’Pl cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Mlô H’Pl không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Mlô H’Pl phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004435 ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Chị Mlô H’Pl đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Mlô H’Pl và anh Nay Kh có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thành viên hội đồng xét xử
-
| Võ Thị Phương L - Ksor H’Qu | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ksor P |