- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Hà Văn H xin ly hôn chị Vi Thị Y"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 05/8/2025 V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Nhật Quang
2. Bà Ngân Thị Diễn
Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025; Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 01/TB-TA ngày 21 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Hà Văn H - Sinh năm 1999
Địa chỉ: bản M, xã Trung X, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là bản M, xã Trung H, tỉnh Thanh Hóa).
Bị đơn: chị Vi Thị Y - Sinh năm 2000
Địa chỉ: bản M, xã Trung X, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (nay là bản M, xã Trung H, tỉnh Thanh Hóa).
Tại phiên toà anh Hà Văn H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Vi Thị Y vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 04/02/2025, Bản tự khai ngày 19/02/2025 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Hà Văn H trình bày:
Về hôn nhân: anh và chị Vi Thị Y tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã Trung Hạ, tỉnh Thanh Hóa) vào ngày 28/01/2019. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do: vợ chồng tính tình không hợp, luôn bất đồng quan điểm sống, không thể hòa nhập được. Anh và chị Y đã sống ly thân kể từ năm 2023 đến nay không ai quan tâm tới nhau.
Xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Y được ly hôn.
Về con chung: anh và chị Y có hai con chung là Hà Như Q, sinh ngày 15/01/2019 và Hà Gia H, sinh ngày 19/10/2021. Hiện hai cháu Như Q và Gia H đang sống cùng anh. Ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Hà Như Q và Hà Gia H; anh không yêu cầu chị Y phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: anh Hà Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: anh Hà Văn H đề nghị chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Kèm theo đơn khởi kiện và bản tự khai, anh Hà Văn H còn nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Căn cước công dân của anh (bản sao chứng thực); Giấy khai sinh Hà Như Q, Hà Gia H (bản sao); Xác nhận thông tin về nơi cư trú của anh và chị Y; Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án.
* Về bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, bao gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự đến Tòa án để trình bày quan điểm về vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp và phiên hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; Thông báo về việc hoãn phiên tòa; nhưng chị Y không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không thể tiếp cận được với chị Y để lấy lời khai của chị.
* Tại biên bản xác minh ngày 17/6/2025, ông Hà Văn H2 - Cha đẻ nguyên đơn Hà Văn H và Biên bản xác minh ngày 17/6/2025, bà Hà Thị C - Mẹ đẻ bị đơn Vi Thị Y, ông H2 và bà C cho biết:
Về hôn nhân: anh H và chị Y kết hôn tự nguyện, tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Xuân vào năm 2019. Sau khi kết hôn, anh H và chị Y sinh sống cùng gia đình ông Hoanh tại bản M, xã Trung X, huyện Q (nay là bản M, xã Trung H, tỉnh Thanh Hóa). Quá trình chung sống đến năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp. Gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng kết quả không thành. Hiện anh H và chị Y đã ly thân, mỗi người sống một nơi. Bà C cho biết thêm: Chị Y sau khi ly thân cũng không về sống cùng gia đình bà mà đi làm xa, thi thoảng mới về nhà nội để thăm con. Nay anh H xin ly hôn chị Y thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: anh H, chị Y có hai con chung Hà Như Q, sinh năm 2019 và Hà Gia H, sinh năm 2021. Hiện hai cháu đang sống cùng anh H và bố, mẹ anh H. Nếu ly hôn thì bà C đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với ông H2 cho biết thêm: Hai cháu Hà Như Q và Hà Gia H đang học tại Trường mầm non xã Trung Xuân (nay là xã Trung Hạ), các cháu chăm ngoan, phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ. Mọi việc đưa, đón các cháu đi học do anh H hoặc ông bà nội trực tiếp thực hiện. Nếu ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, nguyện vọng của gia đình là giao hai cháu cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản và công nợ: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Phiếu yêu cầu xác minh ngày 19/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11- Thanh Hóa): Đại diện Trường mầm non xã Trung Xuân xác nhận hai cháu Hà Như Q và Hà Gia H hiện đang học tại nhà trường. Mọi việc đưa, đón hai cháu là do ông bà nội. Hiện hai cháu phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ.
* Ý kiến của đại diện VKSND khu vực 11 - Thanh Hóa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tố tụng tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật pháp luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228; điều 238 của Bộ luật TTDS; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81; 82; 83 luật HNGĐ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn anh Hà Văn H đối với bị đơn chị Vi Thị Y và giao con chung của anh, chị là Hà Như Q và Hà Gia H cho anh H có quyền trực tiếp nuôi dưỡng; chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Về án phí, anh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Ý kiến của nguyên đơn trong các bản tự khai; ý kiến của đại diện VKSND. Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh Hà Văn H và chị Vi Thị Y các văn bản tố tụng của Tòa án; anh H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Y vắng mặt hai lần không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh H, chị Y.
Thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn đã làm đúng theo mẫu quy định, nội dung khởi kiện xin ly hôn phù hợp với khoản 1 điều 28 của BLTTDS; Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Trung Hạ, tỉnh Thanh Hóa) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND khu vực 11 - Thanh Hóa theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn H và chị Vi Thị Y tự nguyện kết hôn ngày 28/01/2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Trung Xuân, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là UBND xã Trung Hạ, tỉnh Thanh Hóa). Vì vậy, hôn nhân giữa anh H và chị Y là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 Luật HNGĐ năm 2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống. Thực tế, vợ chồng đã ly thân mỗi người sống một nơi. Nay xác định không thể sống chung được với nhau, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị Vi Thị Y.
Qua chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đó là đơn khởi kiện 04/02/2025, Bản tự khai ngày 19/02/2025; Biên bản xác minh lấy ý kiến của cha đẻ nguyên đơn, mẹ đẻ bị đơn mà Tòa án thu thập. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn hôn nhân của anh H, chị Y thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, có kéo dài cũng không đem lại hạnh phúc.
Nay anh H có đơn ly hôn, HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận đơn ly hôn của anh H đối với chị Y.
Về con chung: anh H và chị Y có hai con chung là Hà Như Q, sinh ngày 15/01/2019 và Hà Gia H, sinh ngày 19/10/2021. Khi ly hôn, anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.
Xét nguyện vọng của anh H về trách nhiệm nuôi con:
Qua chứng cứ mà đương sự cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án, HĐXX thấy rằng, nguyện vọng của anh H là chính đáng, phù hợp, việc giao con chung cho ai nuôi phải xem xét tất cả các điều kiện liên quan đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo cho việc phát triển tốt nhất cho các cháu. Hiện hai cháu Hà Như Q và Hà Gia H đang học tập ổn định, phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ, sinh sống cùng anh H và bố mẹ đẻ của anh H; đối với chị Y đi làm xa nhà, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để trình bày quan điểm về việc con chung. Do vậy, giao con chung Hà Như Q và Hà Gia H cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với thực tế và tốt hơn cho sự phát triển của cháu.
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, HĐXX chấp nhận nguyện vọng của anh H; Giao cháu Hà Như Q, sinh ngày 15/01/2019 và Hà Gia H, sinh ngày 19/10/2021 là con chung của anh H, chị Y cho anh H có quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: anh H không đề nghị nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản, công nợ chung: anh H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Hà Văn H là nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn.
Ý kiến của đại diện VKSND khu vực 11 - Thanh Hóa tại phiên tòa hôm nay về việc áp dụng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của HĐXX và các căn cứ pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án đúng với quy định của pháp luật. HĐXX chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật TTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hà Văn H.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn H được ly hôn chị Vi Thị Y.
Về con chung: Giao cho anh Hà Văn H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Hà Như Q, sinh ngày 15/01/2019 và Hà Gia H, sinh ngày 19/10/2021. Chị Y không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H.
Chị Vi Thị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về án phí: Anh Hà Văn H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Thanh Hóa), theo biên lai thu số 0002567, ký hiệu BLTU/23 ngày 04/02/2025. anh H đã nộp đủ án phí.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa; - VKSND khu vực 11 - Thanh Hóa; - UBND xã Trung Hạ, tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Xuân Tùng |