vanban.org

Bản án 04/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Kim H đối với anh Đoàn Văn L. Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Kim H và anh Đoàn Văn L.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Kim H và anh Đoàn Văn L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 04 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Kim H đối với anh Đoàn Văn L. Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Kim H và anh Đoàn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15/01/2025
Về việc tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Tuyết Mai;

2. Ông Đặng Hoàng Mích.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2024/TLST–HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 268/2024/QĐST- HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim H, sinh năm 1990 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Đoàn Văn L, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 06/8/2024, bản tự khai ngày 05/11/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị Kim H trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B vào năm 2015. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung và anh chị đã ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh L.

- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 02 con chung tên là Đoàn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2016, Đoàn Phúc L1, sinh ngày 13/5/2018. Khi ly hôn chị H yêu cầu nuôi 02 con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng/con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung: Không có.

* Theo Bản tự khai ngày 18/12/2024, bị đơn anh Đoàn Văn L trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B vào năm 2015. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 01/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, do anh bị bệnh, kinh tế gia đình khó khăn dẫn đến việc mâu thuẫn tiền bạc, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và anh chị đã ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, chị H yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý vì còn thương vợ, thương con.

- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 02 con chung tên là Đoàn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2016, Đoàn Phúc L1, sinh ngày 13/5/2018. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì anh L đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng/con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung: Không có.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì các đương sự chấp hành tốt.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Kim H đối với anh Đoàn Văn L.

- Về con chung: Giao con chung tên Đoàn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2016, Đoàn Phúc L1, sinh ngày 13/5/2018 cho chị Bùi Thị Kim H được nuôi dưỡng. Buộc anh Đoàn Văn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Bùi Thị Kim H số tiền 1.500.000 đồng/tháng/con chung.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, nên không xét đến.

- Về nợ chung: Hai bên khai không có, nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Bùi Thị Kim H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Đoàn Văn L. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đoàn Văn L có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp P, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre nay là ấp P, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đoàn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L cưới nhau vào năm 2015 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 04/12/2015 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L được công nhận hợp pháp.

Nay, chị H yêu cầu ly hôn anh L vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị H trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 01/2024, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nên anh chị đã ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.

Toà án đã tiến hành mời chị H và anh L để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng và tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/12/2024, anh L không đồng ý ly hôn, muốn hàn gắn hôn nhân với chị H nhưng tại phiên tòa anh L vẫn vắng mặt không lý do, điều đó cho thấy anh L đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.

Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị H và anh L đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị H và anh L có 02 chung tên là Đoàn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2016, Đoàn Phúc L1, sinh ngày 13/5/2018. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi 02 con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng/con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ly thân đến nay, chị H nuôi con chung vẫn phát triển bình thường, các cháu được học tập đầy đủ. Do đó, nhằm để ổn định về tinh thần, quyền lợi về mọi mặt của con chung nên để chị H được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, nguyện vọng của các con chung và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng/con chung, anh L đồng ý với yêu cầu này. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không xét đến.

Về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.

Về án phí:

+ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

+ Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Đoàn Văn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, các Điều 51, 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84, 116, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Kim H đối với anh Đoàn Văn L. Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Kim H và anh Đoàn Văn L.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Kim H và anh Đoàn Văn L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 37 ngày 04 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

Giao 02 con chung Đoàn Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2016, Đoàn Phúc L1, sinh ngày 13/5/2018 cho chị Bùi Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng.

Buộc anh Đoàn Văn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Bùi Thị Kim H với số tiền 1.500.000 đồng/tháng/con chung (Một triệu năm trăm nghìn đồng một tháng một con chung). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày tuyên án (15/01/2025) đến khi cháu Quỳnh N, cháu Phúc L1 thành niên (đủ 18 tuổi).

Anh Đoàn Văn L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Bùi Thị Kim H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Đoàn Văn L trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, đồng thời theo yêu cầu của chị H, anh L, Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Hai bên khai không có nên không xét đến.

5. Về án phí:

- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Bùi Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004043 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy, chị Bùi Thị Kim H đã nộp đủ án phí.

- Án phí cấp dưỡng: Anh Đoàn Văn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Kim H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Đoàn Văn L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ