- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢ O YÊN TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 17/01/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TÒA Á N NHÂN DÂN HUYỆN BẢ O YÊN, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Duy Hưng
2. Bà Hoàng Thị Mây
Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tham gia phiên tòa: Bà
Hoàng Thị Trịnh - Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện BảoYên, tỉnh
Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án dân sự thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/11/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31/12/2024 giữa cac đương sự́
:
1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị H - Sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn Đ 1, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Đặng Văn D - Sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn Đ 1, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Vắng mă ̣t tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 04/11/2024, bản tự khai ngày 06/11/2024 và
lời khai tại phiên tòa của chị Lý Thị H thì chị và anh Đặng Văn D về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 11 năm 2005, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 15/6/2018. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 5 năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái dẫn đến thường xuyên đánh, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của anh chị trở lên trầm trọng kể từ đầu tháng 9/2024, anh chị đã tự khắc phục và được gia đình khuyên bảo nhưng không có kết quả nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sống và ly thân từ 20/9/2024 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lý Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn D.
Đối với anh Đặng Văn D, tại biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2024 thì anh
cũng thừa nhận mâu thuẫn của vợ chồng là do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mâu thuẫn trầm trọng từ đầu tháng 9/2024 và anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay. Tuy nhiên anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ chứ anh không nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị Lý Thị H.
Về con chung: Hai anh chị xác nhận có 01 con chung là cháu Đặng Minh
Đ, sinh ngày 08/11/2008, cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng với chị. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành và không yêu cầu anh Đặng Văn D phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Đối với anh Đặng Văn D không nhất trí ly hôn, nếu Tòa án giải quyết cho
ly hôn thì anh cũng đồng ý để chị Lý Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu cho đến khi trưởng thành.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Lý Thị H và anh Đặng Văn D không yêu
cầu giải quyết tài sản chung; không nợ ai và không cho ai vay mượn gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với vụ án này, nguyên đơn cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ theo
yêu cầu của Tòa án, bị đơn không cung cấp đầy đủ tài liệu chứng. Mặt khác Tòa án đã tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng chăm sóc con chung nhưng các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu nguyện vọng của mình.
Tại phiên toà hôm nay chị Lý Thị H có mặt còn anh Đặng Văn D đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Như vậy cần xét xử vắng mặt anh là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên phát biểu quan điểm: Quá
trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng và đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mắt tại phiên tòa sơ thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1
Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, xử cho chị Lý Thị H ly hôn anh Đặng Văn D; Về con chung: Xử giao cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 08/11/2008 cho chị Lý Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh Đặng Văn D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về án phí: chị Lý Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 04/11/2024, chị Lý Thị H khởi
kiện yêu cầu về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn đối với anh Đặng Văn D nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Hiện nay anh Đặng Văn D đang cư
trú tại thôn Đ 1, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các thông báo, giấy triệu
tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật cho bị đơn. Tòa án đã mở phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 31/12/2024, anh Đặng Văn D vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa và tiếp tục tống đạt văn bản tố tụng cũng như giấy triệu tập đến phiên tòa ngày hôm nay. Tuy nhiên anh Đặng Văn D vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử cần xét xử vắng mặt anh là phù hợp với điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị H và anh Đặng Văn D về chung sống
với nhau như vợ chồng từ tháng 11 năm 2005, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 15/6/2018, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 5 năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái dẫn đến thường xuyên đánh, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của anh chị trở lên trầm trọng kể từ đầu tháng 9/2024, anh chị đã tự khắc phục và được gia đình khuyên bảo nhưng không có kết quả nên chị đã sống ly thân từ 20/9/2024 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Thị H đối với anh Đặng Văn D là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung, cháu khỏe mạnh và phát triển
bình thường. Căn cứ vào điều kiện thu nhập của chị Lý Thị H, nguyện vọng của cháu và xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt, đảm bảo sự ổn định về tâm lý, cũng như sinh hoạt của cháu nên Hội đồng xét xử cần giao cháu cho chị Lý Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Anh Đặng Văn D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Lý Thị H và anh Đặng Văn D không yêu
cầu giải quyết về tài sản; không nợ ai và không cho ai vay mượn gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Lý Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều
228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia
đình;
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lý Thị H ly hôn với anh Đặng Văn
D. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lý Thị H và anh Đặng Văn D chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Đặng Minh Đ, sinh ngày 08/11/2008, cho chị
Lý Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Đặng Văn D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn anh Đặng Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc
con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lý Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003436 ngày 06/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; Chị Lý Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên
đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án; Nơi nhận:
̀
̉
| - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Yên (2); - THADS huyện Bảo Yên (2); - UBND xã P, huyện B; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . | TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Nam |